QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND TỈNH NGHỆ AN Về việc Ban hành Quy định về quản lý thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn trên địa bàn tỉnh Nghệ An ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN -
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003; -
Căn cứ Quyết định số 134/2004/QĐ.TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; -
Căn cứ Thông tư Liên tịch số 819/2004/TTLT/UBDT-KHĐT-TC-XD- NNPTNT ngày 10/11/2004 của Ủy ban Dân tộc và các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư; Tài chính, Xây dựng, Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn thực hiện Quyết định 134/2004/TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; Thông tư số 121/2004/TT-B16 ngày 16/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn công tác lập dự toán, quản lý, cấp phát, thanh toán, quyết toán nguồn vốn ngân sách Nhà nước thực hiện Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ; -
Xét đề nghị của Trưởng ban Dân tộc tại Công văn số: 45/CV-DT ngày 28/02/2005. QUYẾT ĐỊNH
Điều 1
Ban hành kèm theo Quyết định này Bản quy định về quản lý, thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Điều 2
Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký.
Điều 3
Các ông Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các ban, ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, xã trong tỉnh căn cứ Quyết định thi hành.
TM. UBND TỈNH NGHỆ AN
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Nguyễn Thế Trung
QUY ĐỊNH
Về quản lý thực hiện một số chính sách về hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt
cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn trên địa bàn tỉnh Nghệ An
(Kèm theo Quyết định số 42/2005/QĐ-UB ngày 22/3/2005 của UBND tỉnh Nghệ An)
Chương I
Điều 1
Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn đảm bảo nguyên tắc hỗ trợ trực tiếp cho hộ gia đình. Hộ được thụ hưởng từ chính sách trên phải trực tiếp quản lý, sử dụng có hiệu quả các khoản được hỗ trợ nhằm ổn định sản xuất, đời sống, xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số. Trường hợp đặc biệt, không còn nhu cầu sử dụng thì phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất sản xuất, đất ỏ, nhà ở thông qua chính quyền địa phương để giao cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo khác.
Điều 2
Việc bình xét hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo chưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất, đất ở và có khó khăn về nhà ở, nước sinh hoạt phải được tiến hành từ cơ sở thôn, bản, đảm bảo công khai dân chủ thông qua các tổ chức đoàn thể, được UBND xã xem xét, trình UBND huyện kiểm tra, tổng hợp trình UBND tỉnh quyết định.
Điều 3
Mức hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn, sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp tại Nghệ An thực hiện theo mức tối thiểu quy định tại Quyết định 134/TTg.
Điều 4
Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo đời sống khó khăn được thực hiện bằng các nguồn vốn sau:
Ngân sách Trung ương đảm bảo các khoản chi theo định mức hỗ trợ quy định tại điểm a khoản 3 và điểm b khoản 4
Điều 2 của Quyết định 134/TTg;
Ngân sách địa phương;
Nguồn vốn hỗ trợ hợp pháp do địa phương huy động từ các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, cộng đồng.
Các khoản chi phí quản lý, đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình do ngân sách địa phương đảm bảo, mức chi cụ thể do UBND tỉnh quy định và không được trích từ kinh phí hỗ trợ cho các hộ.
Điều 5
Trong quá trình thực hiện phải lồng ghép các chương trình, Bự án để đảm bảo tính hiệu quả, tính, thiết thực, tính công bằng.
Chương II
Điều 6
Đối tượng hỗ trợ.
1. Đối với hộ gia đình
Hộ đồng bào dân tộc thiểu số được hưởng chính sách tại quy định này phải đảm bảo đủ các điều kiện sau đây:
a) Là hộ nghèo được quy định tại Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 01/11/2000 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc điều chỉnh chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2001-2005, cụ thể: vùng nông thôn miền núi, hải đảo có mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ là 80.000đ/tháng, 960.000 đồng/năm.
b) Gia đình sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp, nhưng chưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất, đất ở, có khó khăn về nhà ở, nước sinh hoạt.
c) Là những hộ dân tộc thiểu số (kể cả hộ chỉ có vợ hoặc chồng là người dân tộc thiểu số) đã định cư ở địa phương; hộ đi dân tự do nay trở về quê cũ trước thời điểm Quyết định 134/TTg có hiệu lực thi hành, được UBND xã xác nhận.
d) Trường hợp những hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ đã được hỗ trợ về đất sản xuất, đất ở, nhà ồ và nước sinh hoạt theo các quy định trước đây nhưng đến nay vẫn là hộ nghèo chưa đủ đất sản xuất, đất ở và có khó khăn về nhà ở, nước sinh hoạt thì vẫn được hưởng chính sách hỗ trợ theo Quyết định 134/TTg.
2. Đối với cộng đồng thôn, bản.
Thôn, bản là tổ chức được quy định theo Quyết định số 13/2002/QĐ-BNV ngày 6/12/2002 của Bộ Nội vụ ban hành Quy chế hoạt động của thôn, tổ dân phố và có từ 20% hộ dân tộc thiểu số trở lên đang sinh sống và có khó khăn về nước sinh hoạt.
Điều 7
Phạm vi áp dụng.
Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, sinh sống bằng nghề nông lâm nghiệp thực hiện trong phạm vi cả tỉnh.
Chương III
Điều 8
Đất sản xuất và đất ở
1. Đất sản xuất:
Hộ chưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất được đưa vào diện thụ hưởng chính sách hỗ trợ là hộ quy định tại khoản 1
Điều 6 của bản quy định này và phải có một trong các điều kiện sau đây:
a) Chưa có đất sản xuất;
b) Đã có đất sản xuất nhưng diện tích dưới 0,15 ha đất ruộng lúa nước 2 vụ hoặc dưới 0,25 ha đất ruộng lúa 1 vụ hoặc dưới 0,5 ha nương, rẫy.
Việc giải quyết cho những hộ đã có đất sản xuất nhưng chưa đủ diện tích theo quy định trên, UBND tỉnh giao cho UBND các huyện phối hợp với các ngành chức năng cân đối, cấp bù đủ theo quy định, các khoản chi phí không được trích vào mức hỗ trợ cho các hộ.
2. Đất ở.
Hộ chưa có hoặc chưa đủ đất ở được đưa vào diện thụ hưởng chính sách hỗ trợ là hộ quy định tại Khoản 1
Điều 6 của bản quy định này và phải có một trong các điểu kiện sau đây:
a) Chưa có đất ở;
b) Hộ đã có đất ở nhưng diện tích dưới 200m2/hộ
3. Quỹ đất sản xuất và đất làm nhà ở gồm các loại đất theo quy định tại điều 3 của Quyết định 134/TTg.
4. Mức hỗ trợ:
Đất khai hoang, đất nông lâm trường giao cho hộ sản xuất, đất nhận chuyển nhượng lại của hộ gia đình có nhiều đất, đất khai hoang tập trung giao cho hộ gia đình được ngân sách Trung ương hỗ trợ bình quân mức 5 triệu đồng/ha.
Điều 9
Về nhà ở.
1. Hộ có khó khăn về nhà ở được đưa vào diện thụ hưởng chính sách hỗ trợ là hộ được quy định tại Khoản 1
Điều 6 của bản quy định này và phải có một trong các điều kiện sau đây:
a) Chưa có nhà ở hoặc nhà đang ở nhờ, thuê nhà (không thuộc quyền Sở hữu Nhà nước).
b) Nhà ở quá tạm bợ và đã hư hỏng, dột nát. Nhà ở tạm bợ hư hỏng dột nát là những nhà tranh tre, nứa lá; những nhà mái lá, dùng phên che chắn, cột chôn dưới đất nhưng dễ bị xâm thực, mối mọt và không thể lợp mái ngói được, không có khả năng tu sửa, nâng cấp.
2. Mức hỗ trợ:
Ngân sách Trung ương hỗ trợ 5 triệu đồng/hộ; Ngân sách tỉnh hỗ trợ 1 triệu đồng/hộ và kinh phí hỗ trợ từ đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị xã hội, cộng đồng và cá nhân. Nếu hộ gia đình có nhu cầu làm nhà lốn hơn mức hỗ trợ thì hộ gia đình phải tự đảm bảo phần chênh lệch.
Đối với các địa phương có rừng, có kế hoạch khai thác gỗ rừng tự nhiên nhưng không có kế hoạch mở cửa rừng khai thác gỗ hàng năm thì UBND huyện lập kế hoạch gửi Sở Nông nghiệp và PTNT tổng hợp trình UBND tỉnh phương án giải quyết. Định mức gỗ làm nhà được tính theo định mức vật tư xây dựng cơ bản của Bộ Xây dựng. Giá gỗ tính theo giá gỗ thực tế (chưa thuế) tại địa phương. Chi phí khai thác và vận chuyển gỗ đến thôn, bản được tính trong 1 triệu đồng tỉnh hỗ trợ.
3. Quy định thực hiện hỗ trợ:
a) Việc xây dựng nhà ở được hỗ trợ từ chính sách này phải đúng quy hoạch dân cư của địa phương. Trường hợp hộ gia đình được hỗ trợ nhưng nằm trong khu vực cấm xây dựng, khu vực có nguy cơ lở đất, lũ quét, hành lang bảo vệ công trình giao thông thủy lợi, đê điều, năng lượng, khu di tích lịch sử - văn hóa và khu bảo vệ các công trình khác theo quy định của pháp luật thì việc hỗ trợ về nhà ở phải thực hiện theo dự án di dời sang khu vực tái định cư.
b) UBND các huyện chọn một số mẫu, kiểu dáng nhà ở vừa phù hợp với phong tục tập quán của từng dân tộc, từng địa phương vừa phù hợp với khả năng kinh phí và đảm bảo điều kiện vệ sinh môi trường... đưa ra để dân bàn bạc, quyết định lựa chọn.
c) Công việc xây dựng nhà ở phải đảm bảo nguyên tắc: Hộ tự làm, nhà nước hỗ trợ, cộng đồng giúp đổ.
Việc hỗ trợ xây dựng nhà ở được tiến hành theo 2 bước:
Bước 1: Ưu tiên hỗ trợ những hộ chưa có nhà ở, nhà đang ở nhờ, thuê nhà hoặc nhà ở tạm bợ và đã hư hỏng.
Bước 2: Hỗ trợ nhà dột nát không có khả năng tu sửa, nâng cấp.
Điều 10
Về nước sinh hoạt.
1. Hộ có khó khăn về nước sinh hoạt được đưa vào diện thụ hưởng chính sách hỗ trợ là hộ quy định tại khoản 1
Điều 6 của bản quy định này và phải có một trong các điều kiện sau đây:
a) Nằm trong khu vực đã có hệ thống cấp nước sinh hoạt nhưng nguồn nước không ổn định, không có khả năng xây dựng các bể chứa nước dự phòng;
b) Nằm trong khu vực không có nguồn nước tự chảy phải khai thác nguồn nước ngầm, mùa mưa nhưng không có khả năng làm bể chứa, đào giếng.
2. Thôn, bản có khó khăn về nước sinh hoạt được hưởng thụ chính sách hỗ trợ là thôn, bản quy định tại khoản 2
Điều 6 của bản quy định, có khả năng khai thác nguồn nước phục vụ sinh hoạt nhưng chưa được đầu tư và gặp khó khăn trong việc xây dựng công trình cấp nước.
3. Quy định thực hiện:
a) Đối với các hộ đồng bào có khó khăn về nguồn nước sinh hoạt thì ngân sách Trung ương hỗ trợ mỗi hộ 0,5 tấn xi măng (xi măng đảm bảo mác tố thiểu 300kg / cm2) tại thôn, bản để làm bể chứa nước hoặc hỗ trợ 300.000/ hộ để đào giếng hoặc tạo nguồn nước khác; đối với các hộ không tự làm được bể chứa hoặc lu chứa nước, thì cấp lu, stéc chứa nước bằng nhựa, thép hoặc bằng xi măng cấp cho đồng bào tại thôn, bản.
b) Đối với công trình cấp nước sinh hoạt tập trung thì tổ chức chỉ đạo thực hiện như đối với xây dựng công trình hạ tầng của chương trình 135, vốn hỗ trợ theo quy định tại Quyết định 134/TTg và lồng ghép với các chương trình mục tiêu khác.
Chương IV
Điều 11
Nguyên tắc chung
Việc quản lý, cấp phát, thanh toán kinh phí được thực hiện theo Thông tư số 121/2004/TT-BTC ngày 16/12/2004 hướng dẫn công tác lập dự toán, quản lý, cấp phát, thanh toán, quyết toán nguồn vốn ngân sách Nhà nước thực hiên Quyết định 134/2004/TTg ngày 27/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ.
Điều 12
Lập dự toán và phân bổ kinh phí:
Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Ban Dân tộc xây dựng dự toán kinh phí thực hiện Quyết định số 134/2004/TTg trên cơ sở kết quả bình xét số hộ nghèo thuộc đối tượng được hỗ trợ đã được bình xét ở cơ sở; số thôn bản thuộc đối tượng được hỗ trợ đầu tư các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung trình UBND tỉnh đề nghị Trung ương hỗ trợ theo từng chính sách.
Căn cứ dự toán bổ sung có mục tiêu hàng năm được Thủ tướng Chính phủ giao, nguồn ngân sách địa phương và nguồn huy động khác, Sở Tài chính phối hợp với sỏ Kế hoạch và Đầu tư và Ban Dân tộc lập phương án phân bổ dự toán ngân sách chi tiết theo từng nhiệm vụ, theo từng huyện trình UBND tỉnh trình HĐND tỉnh quyết định trong dự toán ngân sách địa phương hàng năm.
Căn cứ nghị quyết của HĐND tỉnh, UBND tỉnh giao dự toán cho các huyện chi tiết theo từng nhiệm vụ.
Căn cứ mức kinh phí được UBND tỉnh giao, UBND huyện quyết định phân bổ và thông báo cho từng xã theo từng nhiệm vụ và từng hộ dân được hưởng theo danh sách đã được cấp có thẩm quyền quyết định.
Căn cứ quyết định của UBND huyện, UBND xã thông báo công khai mức hỗ trợ đến từng hộ dân theo từng chính sách, chế độ được hỗ trợ.
Điều 13
Quản lý, cấp phát, thanh toán kinh phí hỗ trợ:
1. Trên cơ sở dự toán đã được UBND tỉnh giao cho các huyện, Sở Tài chính làm thủ tục bổ sung có mục tiêu cho ngân sách huyện. Phòng Tài chính Kế hoạch huyện phối hợp với Kho bạc Nhà nước thực hiện quản lý và cấp phát theo các mục tiêu cho các đối tượng thụ hưởng theo tiến độ thực hiện.
2. Việc quản lý, cấp phát và thanh toán kinh phí để thực hiện Quyết định 134/TTg cho các đơn vị và từng hộ dân phải đảm bảo chặt chẽ, đảm bảo đúng mục tiêu, đúng đối tượng nhất là với những khoản thanh toán bằng tiền mặt (hoặc hiện vật) cho các hộ dân, UBND xã phải lập danh sách cho từng hộ dân ký nhận (hoặc điểm chỉ) và thực hiện đầy đủ thủ tục chứng từ theo đúng quy định.
3. Đối với các hộ dân được hưởng chế độ hỗ trợ nhà ở nếu hộ tự làm được, có nhu cầu thì được tạm ứng tối đa bằng 60% mức Ngân sách Nhà nước hỗ trợ, sau khi nghiệm thu hoàn thành được thanh toán 100% tổng mức hỗ trợ.
4. Về nước sinh hoạt: Căn cứ danh sách các hộ được hưởng chế độ hỗ trợ nước sinh hoạt đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, đăng ký của các hộ dân về phương thức thực hiện, UBND xã tổng hợp nhu cầu theo từng phương thức thực hiện: hộ đăng ký nhận lu, stéc chứa nước; hộ tự đào giếng hoặc dùng đường ông dẫn nước về dùng gửi Ban quản lý và phòng tài chính huyện làm căn cứ kiểm tra, kiểm soát và cấp kinh phí hoặc vật tư để thực hiện.
5. Về thực hiện chế độ hỗ trợ đất sản xuất và đất ở: căn cứ phương án giải quyết về đất ở và đất sản xuất cho các hộ dân tộc thiểu số nghèo thiếu đất ở, đất sản xuất; tùy theo phương thức thực hiện để có cơ chế cấp phát thanh toán cho phù hợp. Mức thanh toán tương ứng với số diện tích thực tế đã khai hoang hoặc giao, chuyển nhượng và tô! đa không vượt quá 5 triệu đồng/ha.
6. Đối với các công trình khai hoang tập trung hoặc công trình cấp nước sinh hoạt tập trung tại các thôn bản, việc tạm ứng, thanh toán được áp dụng theo các quy định đối với các công trình hạ tầng thuộc
Chương trình 135 (quy định tại Quyết định 115/2001/QĐ-UB ngày 29/11/2001 của UBND tỉnh).
Điều 14
Báo cáo kế toán và quyết toán:
Số kinh phí ngân sách Nhà nước hỗ trợ để thực hiện các chính sách hỗ trợ hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn theo Quyết định 134/TTg được hạch toán, quyết toán thu, chi ngân sách địa phương theo quy định hiện hành. UBND huyện, UBND xã, Phòng Tài chính Kế hoạch huyện có trách nhiệm phối hợp với Kho bạc Nhà nước và các cơ quan liên quan tổ chức theo dõi tình hình thực hiện việc cấp phát; hàng tháng UBND xã, phòng Tài chính Kế hoạch huyện báo cáo cho UBND huyện và Sở Tài chính về kết quả thực hiện chương trình, tiến độ thanh toán vốn, Sở Tài chính tổng hợp báo cáo UBND tỉnh; hàng quý, Sở Tài chính tổng hợp để UBND tỉnh báo cáo cho Ủy ban Dân tộc, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Chương V
Điều 15
Trách nhiệm của các ngành cấp tỉnh:
1. Ban Dân tộc là cơ quan Thường trực chủ trì phối hợp với các Sở, ngành: Kế hoạch Đầu tư, Tài chính, Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có nhiệm vụ:
a) Tổng hợp và lập kế hoạch vốn đầu tư thống nhất với Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở Tài chính trình UBND tỉnh quyết định.
b) Giúp UBND tỉnh tổng hợp, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, báo cáo tình hình thực hiện theo tháng, quý, kết thúc năm có báo cáo sơ kết đánh giá gửi về UBND tỉnh, Ủy ban Dân tộc và các Bộ, ngành có liên quan.
2. Sở Kế hoạch và Đầu tư.
Căn cứ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội các huyện, chủ trì phối hợp với các Sở: Tài chính, Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lao động Thương binh và Xã hội, Tài nguyên và Môi trường; Ban Dân tộc, Ban vận động xây dựng quỹ vì người nghèo của tỉnh tổ chức lồng ghép các chương trình, dự án trên địa bàn và thẩm định đề án "giải quyết đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn" trình UBND tỉnh phê duyệt.
3. Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước tỉnh căn cứ hướng dẫn của bộ chuyên ngành, hướng dẫn các huyện thực hiện tạm ứng và thanh quyết toán đảm bảo chặt chẽ, không thất thoát, chính sách được thực hiện đạt hiệu quả cao.
4. Các Sở, ngành: Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lao động TB và XH, Tài nguyên và Môi trường căn cứ chức năng nhiệm vụ chuyên ngành hướng dẫn các huyện thực hiện tốt Quyết định số 134/TTg và TT liên tịch số 819/2004/TTLT/UBDT - KHĐT- TC - XD-NNPTNT ngày 10 tháng 11 năm 2004 của Ủy ban Dân tộc - Bộ Kế hoạch Đầu tư, Tài chính, Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các hướng dẫn của các Bộ chuyên ngành.
Điều 16
Trách nhiệm của UBND các huyện:
UBND các huyện trình UBND tỉnh ra Quyết định thành lập mới Ban chỉ đạo thực hiện Quyết định 134/TTg hoặc tăng cường Ban chỉ đạo
Chương trình 135 của huyện để thực hiện Quyết định 134/TTg, trong đó Phòng Dân tộc hoặc cán bộ chuyên trách công tác dân tộc là thành viên Thường trực Ban chỉ đạo, các phòng ban chuyên môn và Chủ tịch UBND các xã được hưởng chính sách là các thành viên.
Điều 17
Trách nhiệm của UBNB cấp xã.
1. UBND xã trình UBND huyện ra quyết định thành lập mối Ban chỉ đạo thực hiện Quyết định 134/TTg hoặc tăng cường Ban giám sát
Chương trình 135 của xã để thực hiện Quyết định 134/TTg. Thành phần bao gồm Trưởng ban là Chủ tịch HĐND, một phó ban và thành viên là các bộ phận chuyên môn, các tổ chức đoàn thể.
Điều 18.
Quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, các huyện, các ngành và đơn vị có liên quan cần phản ánh kịp thời về Ban Dân tộc để tổng hợp trình UBND tỉnh xem xét xử lý.