THÔNG TƯ Hướng dẫn việc quản lý và xử lý tang vật, phương tiện tịch thu sung quỹ Nhà nước do vi phạm hành chính
Căn cứ Nghị định số 14/1998/NĐ-CP ngày 6 tháng 3 năm 1998 của Chính phủ về quản lý tài sản nhà nước
Căn cứ Nghị định 134/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý và xử lý tang vật, phương tiện tịch thu sung quỹ Nhà nước do vi phạm hành chính như sau: I. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG 1. Thông tư này hướng dẫn việc xác định giá trị, bảo quản, phân loại, chuyển giao, xử lý và tổ chức bán đấu giá tang vật, phương tiện (sau đây gọi chung là tài sản) tịch thu sung quỹ Nhà nước do vi phạm hành chính và quản lý các khoản thu, chi phát sinh từ việc quản lý, xử lý tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước. 2. Người có thẩm quyền ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính theo quy định tại Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002; cơ quan tài chính nhà nước và Kho bạc Nhà nước các cấp; Hội đồng bán đấu giá tài sản các cấp; Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh; tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc bán đấu giá tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước có trách nhiệm thực hiện Thông tư này. II. XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI SẢN VI PHẠM HÀNH CHÍNH 1. Xác định giá trị tài sản: Trong trường hợp cần áp dụng biện pháp tịch thu tài sản, người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ mời đại diện cơ quan tài chính cùng cấp xem xét, định giá tài sản để ra quyết định tịch thu. Việc xác định giá trị tài sản được thực hiện như sau: -
Căn cứ vào số lượng, chất lượng tài sản cần ra quyết định tịch thu; căn cứ giá các loại tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước trên địa bàn do Sở Tài chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định (nếu có); căn cứ giá tài sản cùng loại trên thị trường địa phương hoặc giá tài sản có cùng các chỉ tiêu kỹ thuật, chất lượng với tài sản cần định giá; tham khảo giá tính thuế xuất nhập khẩu, giá tính lệ phí trước bạ, giá tính thuế tài nguyên và giá tài sản trên hồ sơ tài liệu kèm theo như hợp đồng kinh tế, hợp đồng mua bán, vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm, hoá đơn mua bán tài sản, tờ khai nhập khẩu, các loại giấy tờ khác có liên quan; người có thẩm quyền ra quyết định tịch thu và đại diện cơ quan tài chính xác định giá trị của từng tài sản. - Trong trường hợp tài sản đã qua sử dụng, thì phải xác định tỷ lệ (%) chất lượng còn lại của từng tài sản. Đối với các tài sản khó xác định chất lượng thì có thể thuê cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước hoặc đơn vị tư vấn chuyên ngành xác định. - Giá trị tài sản của một vụ vi phạm (khi có quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước) được xác định trên cơ sở đơn giá tài sản và số lượng tài sản thực tế bị tịch thu sung quỹ Nhà nước. - Trường hợp tài sản vi phạm hành chính thuộc loại chưa được Sở Tài chính quy định giá, khó định giá hoặc chưa có sự thống nhất giữa người có thẩm quyền ra quyết định tịch thu và đại diện cơ quan tài chính, thì người có thẩm quyền ra quyết định phải thành lập Hội đồng định giá tài sản. Thành phần Hội đồng định giá tài sản bao gồm: + Đại diện cơ quan tài chính cùng cấp - Chủ tịch Hội đồng + Đại diện cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tịch thu (hoặc cơ quan trình cấp có thẩm quyền ra quyết định tịch thu) - Phó Chủ tịch Hội đồng + Đại diện cơ quan chuyên môn kỹ thuật (nếu cần) - Thành viên + Đại diện Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh (nếu có) - Thành viên + Một số thành viên thuộc cơ quan tài chính và cơ quan ra quyết định tịch thu để thành lập Tổ công tác giúp việc cho Hội đồng theo quyết định của Chủ tịch Hội đồng. Hội đồng định giá tài sản tịch thu làm việc theo nguyên tắc tập thể. Các quyết định của Hội đồng phải được quá nửa số thành viên Hội đồng tán thành. Trong trường hợp biểu quyết ngang nhau thì quyết định theo phía có ý kiến của Chủ tịch Hội đồng. Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định thành lập, Hội đồng định giá phải thực hiện việc định giá tài sản vi phạm. Hội đồng định giá tài sản có thể thuê cơ quan có chức năng định giá để xác định giá trị tài sản trước khi quyết định giá trị từng loại tài sản. 2. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện không bị giới hạn về giá trị tài sản theo quy định tại
Chương IV của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, thì có thể định giá tài sản sau khi có quyết định tịch thu. Việc xác định giá trị tài sản đã có quyết định tịch thu được thực hiện theo quy định tại điểm 1
Mục này.
Mục này phải được lập thành biên bản theo Mẫu số 1 đính kèm Thông tư này.
Mục này được sử dụng để chuyển giao cho các cơ quan, đơn vị quản lý, sử dụng; chuyển giao cho cơ quan tài chính hoặc Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh để bán đấu giá.
Mục II Thông tư này, cơ quan ra quyết định tịch thu chuyển giao các hồ sơ về tài sản của từng vụ vi phạm hành chính bao gồm: Quyết định tịch thu, Biên bản tịch thu, Biên bản xác định giá trị tài sản vụ vi phạm và các bản sao hồ sơ, giấy tờ tài liệu có liên quan đến các tài sản tịch thu cho cơ quan tài chính cấp tỉnh đối với tài sản tịch thu của một vụ vi phạm có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên; cơ quan tài chính cấp huyện đối với tài sản tịch thu của một vụ vi phạm có giá trị dưới 10.000.000 đồng.
Mục II Thông tư này. Trường hợp giá tài sản bán đấu giá có sự biến động lớn so với mức giá đã xác định tại
Mục II Thông tư này, hoặc quá 3 tháng kể từ ngày định giá lần trước, thì Hội đồng phải tiến hành định giá lại theo hướng dẫn tại điểm 1
Mục II Thông tư này.
Mục này.
Mục III Thông tư này.
Mục này được nộp vào Ngân sách Nhà nước cùng cấp để quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.
Mục này được sử dụng từ tài khoản tạm giữ của cơ quan tài chính mở tại Kho bạc Nhà nước. Trong trường hợp việc xử lý tài sản không có nguồn thu (tài sản phải tiêu huỷ, tài sản bán thu không đủ bù chi,
Mục V Thông tư này.
Mục V Thông tư này).