THÔNG TƯ Hướng dẫn thực hiện Nghị định 66/2003/NĐ-CP ngày 12/06/2003 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế đấu thầu
Căn cứ
Điều 4 Nghị định số 66/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Nghị định 66/CP) về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế Đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 và Nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Nghị định 88/CP và 14/CP), căn cứ ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định 66/CP (văn bản số 1336/CP-CN ngày 2 tháng 10 năm 2003), Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 66/CP như sau:
Phần 1
Điều 1 Nghị định 66/CP)
I. Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của nhà thầu
Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự đối với nhà thầu trong nước được căn cứ theo quy định của Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, còn đối với nhà thầu nước ngoài được căn cứ theo pháp luật của nước nơi nhà thầu mang quốc tịch, cụ thể phải đáp ứng được các điều kiện sau:
1. Đối với nhà thầu là tổ chức trong nước
a. Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép kinh doanh và thực hiện đúng theo đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp;
b. Hoặc có quyết định thành lập (đối với các đơn vị không có đăng ký kinh doanh) do cơ quan có thẩm quyền cấp và thực hiện đúng theo quyết định thành lập.
2. Đối với nhà thầu là tổ chức nước ngoài
Có đăng ký hoạt động hợp pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi nhà thầu mang quốc tịch cấp.
3. Đối với nhà thầu là cá nhân
a. Người từ đủ 18 tuổi trở lên;
b. Có hộ khẩu thường trú tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc hộ chiếu hợp pháp (đối với cá nhân là người nước ngoài);
c. Có đăng ký hoạt động hợp pháp hoặc chứng chỉ chuyên môn phù hợp do cơ quan có thẩm quyền cấp và thực hiện đúng theo đăng ký hoạt động hoặc chứng chỉ chuyên môn;
d. Không ở trong tình trạng đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang trong thời gian chờ chấp hành các hình phạt của tòa án các cấp.
II. Sự độc lập về tài chính của nhà thầu
Nhà thầu được coi là độc lập về tài chính nếu đáp ứng đủ các yêu cầu sau:
1. Là một đơn vị hạch toán kinh tế độc lập;
2. Không có cùng lợi ích kinh tế với các tổ chức và cá nhân liên quan:
Đại diện hợp pháp của nhà thầu không có thân nhân là vợ, chồng, cha, mẹ, con hoặc anh, chị, em ruột tham gia bên mời thầu, tổ chuyên gia, tư vấn đánh giá hồ sơ dự thầu, thẩm định kết quả đấu thầu của gói thầu mà mình tham dự.
Phần 2
Điều 1 Nghị định 66/CP)
I. Quy định chung
Quy trình đánh giá hồ sơ dự thầu đối với mua sắm hàng hóa và xây lắp được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 và
Điều 41 Quy chế Đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định 88/CP và được hướng dẫn tại
Chương II và
Chương III
Phần thứ tư Thông tư 04/2000/TT-BKH ngày 26/5/2000 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (sau đây gọi tắt là Thông tư 04).
Điều 1 Nghị định 66/CP bao gồm các nội dung sau:
1. Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tổng quát:
Việc xác định danh mục các tiêu chuẩn đánh giá tổng quát cần căn cứ vào tính chất của gói thầu trên cơ sở quy định tại điểm 2 khoản 12
Điều 1 Nghị định 66/CP (đối với gói thầu mua sắm hàng hóa) và quy định tại điểm 2 khoản 15
Điều 1 Nghị định 66/CP (đối với gói thầu xây lắp).
Đối với tiêu chuẩn đánh giá tổng quát chỉ sử dụng tiêu chí “đạt” hoặc “không đạt”.
2. Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chi tiết:
Để có căn cứ đánh giá hồ sơ dự thầu theo từng tiêu chuẩn đánh giá tổng quát, cần xây dựng tiêu chuẩn chi tiết cho từng tiêu chuẩn đánh giá tổng quát.
Đối với tiêu chuẩn đánh giá chi tiết tuỳ theo đặc thù của gói thầu, ngoài tiêu chí “đạt” hoặc “không đạt” quy định cho các yêu cầu cơ bản của hồ sơ mời thầu thì được phép áp dụng thêm tiêu chí “chấp nhận được” cho các yêu cầu không cơ bản, song không được vượt quá 30% tổng số tiêu chuẩn đánh giá chi tiết cho một tiêu chuẩn đánh giá tổng quát.
3. Quy định mức độ đáp ứng:
a. Đối với tiêu chuẩn đánh giá tổng quát:
Một tiêu chuẩn đánh giá tổng quát được coi là “đạt” khi:
Các tiêu chuẩn đánh giá chi tiết đều được đánh giá là “đạt” hoặc;
Tiêu chuẩn đánh giá chi tiết cho yêu cầu cơ bản phải được đánh giá là “đạt”, còn tiêu chuẩn đánh giá chi tiết đối với các yêu cầu không cơ bản có thể được đánh giá là “đạt” hoặc “chấp nhận được” tuỳ theo từng gói thầu.
Bất kỳ một yêu cầu nào dù là yêu cầu cơ bản hay không cơ bản thuộc tiêu chuẩn đánh giá chi tiết được đánh giá là “không đạt” thì tiêu chuẩn đánh giá tổng quát tương ứng được coi là “không đạt”.
b. Đối với đánh giá sự đáp ứng yêu cầu về mặt kỹ thuật:
Một hồ sơ dự thầu được đánh giá theo các tiêu chuẩn đánh giá tổng quát đều “đạt” thì được coi là đáp ứng yêu cầu về mặt kỹ thuật (đáp ứng cơ bản yêu cầu của hồ sơ mời thầu). Khi có một tiêu chuẩn đánh giá tổng quát được đánh giá là “không đạt” thì hồ sơ dự thầu này được coi là không đáp ứng yêu cầu về mặt kỹ thuật.
Những tiêu chuẩn đánh giá chi tiết được quy định áp dụng tiêu chí “chấp nhận được” phải được làm rõ khi thương thảo hoàn thiện hợp đồng để đảm bảo tính khả thi so với yêu cầu của hồ sơ mời thầu.
III. Thực hiện đánh giá theo tiêu chí “đạt”, “không đạt”
Việc thực hiện đánh giá theo tiêu chí “đạt”, “không đạt” phải căn cứ theo các tiêu chuẩn đánh giá quy định trong hồ sơ mời thầu và không được bỏ bớt, bổ sung hoặc thay đổi bất kỳ nội dung nào thuộc tiêu chuẩn đánh giá. Đồng thời phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
1. Chỉ đánh giá các hồ sơ dự thầu đã vượt qua đánh giá sơ bộ theo hướng dẫn tại mục I
Chương II (đối với gói thầu mua sắm hàng hóa) và mục I
Chương III (đối với gói thầu xây lắp)
Phần thứ tư Thông tư 04.
Chương II (đối với gói thầu mua sắm hàng hóa) và khoản 2 mục II
Chương III (đối với gói thầu xây lắp)
Phần thứ tư Thông tư 04.
Phần 3
Điều 1 Nghị định 66/CP)
Việc lựa chọn nhà thầu thực hiện gói thầu EPC có thể được thực hiện theo một trong các hình thức lựa chọn nhà thầu phù hợp được quy định tại
Điều 4 Quy chế Đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định 88/CP nhưng phải được xác định trong kế hoạch đấu thầu do người có thẩm quyền phê duyệt để có cơ sở cho triển khai thực hiện.
Đối với trường hợp áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế để lựa chọn nhà thầu thực hiện gói thầu EPC, trình tự thực hiện phải tuân thủ quy định tại
Điều 20,
Điều 22 và
Điều 33 của Nghị định 88/CP và khoản 5
Điều 1 Nghị định 66/CP, theo phương thức đấu thầu hai giai đoạn quy định tại khoản 3
Điều 5 Nghị định 88/CP. Theo đó, trình tự tổ chức đấu thầu gói thầu EPC thực hiện như sau:
I. Chuẩn bị đấu thầu
1. Sơ tuyển
Việc sơ tuyển phải được tiến hành đối với các gói thầu EPC có giá gói thầu từ 300 tỷ đồng trở lên. Quy trình sơ tuyển được thực hiện theo quy định tại
Điều 23 và
Điều 34 Nghị định 88/CP và
Chương II
Phần thứ nhất Thông tư 04 với một số lưu ý sau:
Phần 4 của Thông tư này với các nội dung chính sau:
Điều 1 Nghị định 66/CP, tham khảo các hướng dẫn tại điểm a, điểm b và điểm c khoản 3 mục I
Chương II
Phần thứ ba Thông tư 04, cụ thể bao gồm những nội dung sau:
Điều 1 Nghị định 66/CP.
b.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật:
Tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật đối với gói thầu EPC phải tuân thủ quy định tại khoản 5
Điều 1 Nghị định 66/CP, cụ thể như sau:
Tiêu chuẩn đánh giá phải bao gồm đầy đủ cả 3 nội dung thiết kế (E), cung cấp thiết bị, vật tư (P) và xây lắp (C), trong đó phải quy định mức điểm yêu cầu tối thiểu về mặt kỹ thuật đối với từng nội dung.
Nhà thầu được coi là đạt yêu cầu về mặt kỹ thuật là nhà thầu có số điểm được đánh giá không thấp hơn 90% tổng số điểm về mặt kỹ thuật.
Căn cứ nguyên tắc nêu trên, việc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật đối với gói thầu EPC được thực hiện theo một trong hai cách sau:
Cách 1 :
Quy định mức điểm yêu cầu tối thiểu về mặt kỹ thuật đối với từng nội dung (E, P và C) là 90% tổng số điểm về mặt kỹ thuật. Cách này được áp dụng khi từng nội dung (E, P và C) của gói thầu EPC đều có yêu cầu cao về mặt kỹ thuật.
Cách 2 :
Quy định mức điểm yêu cầu tối thiểu về mặt kỹ thuật đối với từng nội dung (E, P và C) không nhất thiết đều là 90% tổng số điểm về mặt kỹ thuật, nhưng phải đảm bảo theo các quy định về mức điểm yêu cầu tối thiểu như đối với các gói thầu thuần tuý là thiết kế (E), thuần tuý là cung cấp thiết bị, vật tư (P) và thuần tuý là xây lắp (C). Theo đó, trong trường hợp bình thường mức điểm yêu cầu tối thiểu cho một nội dung (E hoặc P hoặc C) không được quy định dưới 70%, còn trong trường hợp có yêu cầu cao về mặt kỹ thuật thì phải quy định mức điểm yêu cầu tối thiểu là 90% tổng số điểm về mặt kỹ thuật.
Đồng thời quy định tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật tổng hợp cho cả 3 nội dung E, P và C. Hệ số tương quan giữa các nội dung E, P và C (ví dụ E chiếm tỷ trọng 30%, P chiếm tỷ trọng 50% và C chiếm tỷ trọng 20% tổng số điểm kỹ thuật tổng hợp) được xác định tuỳ theo đặc thù của gói thầu cụ thể nhưng phải quy định mức yêu cầu tối thiểu đối với điểm kỹ thuật tổng hợp là 90%.
Cách này áp dụng khi đối với từng nội dung E, P và C không phải đều có yêu cầu cao về kỹ thuật.
Nội dung tiêu chuẩn đánh giá chi tiết đối với từng nội dung E, P và C cần căn cứ vào các quy định tương ứng trong Nghị định 88/CP và Thông tư 04.
b.3.3 Tiêu chuẩn đánh giá về tài chính, thương mại:
Sử dụng phương pháp giá đánh giá đối với các hồ sơ dự thầu đạt yêu cầu về mặt kỹ thuật để so sánh xếp hạng nhà thầu. Trường hợp quy định tiêu chuẩn đánh giá theo cách 1 thì nhà thầu đáp ứng yêu cầu về mặt kỹ thuật đối với gói thầu EPC là nhà thầu có hồ sơ dự thầu được đánh giá theo từng nội dung E, P và C đạt từ 90% tổng số điểm về mặt kỹ thuật trở lên đối với từng nội dung. Trường hợp tiêu chuẩn đánh giá theo cách 2 thì nhà thầu đáp ứng yêu cầu về mặt kỹ thuật đối với gói thầu EPC là nhà thầu có hồ sơ dự thầu đạt từ 90% tổng số điểm kỹ thuật tổng hợp trở lên.
Việc xây dựng tiêu chuẩn đưa về một mặt bằng để xác định giá đánh giá căn cứ theo quy định tại điểm 3 khoản 12 (đối với gói thầu mua sắm hàng hóa) và điểm 3 khoản 15 (đối với gói thầu xây lắp)
Điều 1 Nghị định 66/CP.
c) Phạm vi cung cấp, yêu cầu kỹ thuật:
Điều khoản tham chiếu đối với tư vấn thiết kế, quản lý, vận hành, chuyển giao;
Các yêu cầu về công suất, hiệu suất, công nghệ và yêu cầu làm rõ nguồn gốc hàng hoá và công nghệ;
Các yêu cầu về chất lượng, tiến độ công trình, bảo hành, bảo trì;
Các yêu cầu về môi trường;
Các yêu cầu khác (nếu có).
d) Dự thảo hợp đồng: Căn cứ quy định tại khoản 5
Điều 1 Nghị định 66/CP, nội dung dự thảo hợp đồng EPC thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng.
đ) Các biểu mẫu:
Mẫu đơn dự thầu;
Mẫu biểu giá dự thầu;
Mẫu bảo lãnh dự thầu;
Mẫu bảo lãnh thực hiện hợp đồng;
Mẫu bảo lãnh tạm ứng;
Mẫu kê khai liên danh, thầu phụ;
Mẫu báo cáo tình hình tài chính;
Mẫu ủy quyền của nhà sản xuất;
Các biểu mẫu khác (nếu có).
3. Mời thầu
Mời thầu thực hiện thông qua thông báo mời thầu đối với gói thầu thực hiện đấu thầu rộng rãi không qua sơ tuyển hoặc gửi thư mời thầu tới các nhà thầu tham gia đấu thầu hạn chế, gửi thư mời thầu tới các nhà thầu đã đạt bước sơ tuyển (trong trường hợp có thực hiện sơ tuyển). Thông báo mời thầu thực hiện theo quy định tại khoản 3 mục I
Phần 4 của Thông tư này. Việc gửi thư mời thầu phải thực hiện tối thiểu 7 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời thầu.
Điều 1 Nghị định 66/CP và mục VI
Chương III
Phần thứ nhất Thông tư 04.
Chương II
Phần thứ tư của Thông tư 04.
Chương II và khoản 2 mục II
Chương III
Phần thứ tư của Thông tư 04 với một số lưu ý như sau:
Phần thứ năm của Thông tư 04.
Phần 4
Điều 1 Nghị định 66/CP)
Phần này hướng dẫn thực hiện việc đăng tải thông tin về đấu thầu trên Tờ thông tin về đấu thầu và trang Web về đấu thầu của Nhà nước. Ngoài phạm vi và đối tượng quy định ở
Phần này, các Bộ ngành và Địa phương tuỳ theo điều kiện cụ thể, quyết định về việc đăng tải và nội dung đăng tải đối với Tờ thông tin về đấu thầu và trang Web về đấu thầu của Bộ ngành và Địa phương mình.
Điều 2 Nghị định 88/CP) do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép đầu tư, bao gồm:
1. Kế hoạch đấu thầu: Việc đăng ký thông báo kế hoạch đấu thầu được thực hiện theo Mẫu 1 Phụ lục II của Thông tư này.
2. Mời sơ tuyển và Kết quả sơ tuyển: Việc đăng ký thông báo mời sơ tuyển và kết quả sơ tuyển được thực hiện theo Mẫu 2 Phụ lục II và Mẫu 4 Phụ lục II của Thông tư này.
Việc đăng tải thông báo mời sơ tuyển được áp dụng cho các gói thầu có sơ tuyển thuộc các dự án nêu tại mục I
Phần này.\
Phần này, bước đầu chỉ thực hiện đăng tải đối với những gói thầu tư vấn có giá gói thầu từ 5 tỷ đồng trở lên và đối với những gói thầu mua sắm hàng hoá và xây lắp có giá gói thầu từ 20 tỷ đồng trở lên thuộc các dự án nêu tại khoản 1 mục I
Phần này.
Phần này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực và chính xác của các số liệu do mình cung cấp.
Điều 1 Nghị định 66/CP.
Các cơ quan cung cấp thông tin bao gồm:
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư:
Thông tin do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cung cấp cho Tờ thông tin về đấu thầu và trang Web về đấu thầu của Nhà nước bao gồm các nội dung quy định tại điểm a khoản 8, khoản 9 và khoản 13 mục I của
Phần này.
Phần này.
Phần này.
Phần 5 “Hệ thống dữ liệu thông tin về nhà thầu” của Thông tư này.
Phần này được đăng tải miễn phí trên Tờ thông tin về đấu thầu và trang Web về đấu thầu của Nhà nước.
Phần 5
Điều 1 của Nghị định 66/CP)
I. Trách nhiệm của các bên đối với Hệ thống dữ liệu thông tin về nhà thầu
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đăng tải và quản lý Hệ thống dữ liệu thông tin về nhà thầu chung trên toàn quốc, tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký của các nhà thầu do các Bộ ngành quản lý, quyết định thành lập, cấp giấy phép đầu tư hoặc giấy phép hoạt động và các nhà thầu nước ngoài có nguyện vọng tham gia hoạt động đấu thầu tại Việt Nam. Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm xây dựng cơ sở hạ tầng hệ thống mạng thông tin diện rộng, soạn thảo phần mềm ứng dụng, hướng dẫn về mặt kỹ thuật để đảm bảo vận hành của Hệ thống dữ liệu thông tin về nhà thầu.
2. Sở Kế hoạch và Đầu tư
Sở Kế hoạch và Đầu tư thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký của các nhà thầu do cơ quan có thẩm quyền của địa phương quyết định thành lập, cấp giấy phép đầu tư hoặc giấy phép hoạt động, tiếp đó chuyển những thông tin hợp lệ vào Hệ thống dữ liệu thông tin về nhà thầu theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
3. Nhà thầu
Nhà thầu khi tham gia quá trình lựa chọn nhà thầu phải có tên trong Hệ thống dữ liệu thông tin về nhà thầu do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý (theo quy định tại khoản 7
Điều 1 Nghị định 66/CP). Trong trường hợp nhà thầu bị cấm tham dự thầu vĩnh viễn (theo quy định tại điểm 2 (h) khoản 26
Điều 1 Nghị định 66/CP) thì sẽ bị xóa tên khỏi Hệ thống dữ liệu thông tin về nhà thầu.
II. Thủ tục đăng ký vào Hệ thống dữ liệu thông tin về nhà thầu
1. Hồ sơ đăng ký lần đầu
a) Đối với nhà thầu trong nước là tổ chức:
Phiếu đăng ký thông tin cho Hệ thống dữ liệu thông tin về nhà thầu (theo Mẫu 1a, Phụ lục III của Thông tư này);
Bản sao có công chứng quyết định thành lập (đối với đơn vị không có đăng ký kinh doanh), giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc văn bản pháp lý khác có giá trị tương đương.
b) Đối với nhà thầu nước ngoài là tổ chức:
Phiếu đăng ký thông tin cho Hệ thống dữ liệu thông tin về nhà thầu (theo Mẫu 2a, Phụ lục III của Thông tư này);
Bản sao có công chứng giấy chứng nhận đăng ký hoạt động hợp pháp của nhà thầu do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi nhà thầu mang quốc tịch cấp.
Hồ sơ đăng ký của nhà thầu nước ngoài được lập thành hai bản, một bản tiếng Việt và một bản tiếng Anh, có giá trị pháp lý ngang nhau.
c) Đối với nhà thầu là cá nhân:
Phiếu đăng ký thông tin cho Hệ thống dữ liệu thông tin về nhà thầu (theo Mẫu 3a, Phụ lục III của Thông tư này);
Bản sao có công chứng đăng ký hoạt động hoặc chứng chỉ chuyên môn của nhà thầu.
Đối với nhà thầu là cá nhân nước ngoài, hồ sơ đăng ký được làm thành hai bản, một bản tiếng Việt, một bản tiếng Anh, có giá trị pháp lý ngang nhau.
2. Hồ sơ đăng ký thay đổi, bổ sung
Phiếu đăng ký thay đổi, bổ sung thông tin cho Hệ thống dữ liệu thông tin về nhà thầu (lựa chọn sử dụng Mẫu 1b, Mẫu 2b hoặc Mẫu 3b, Phụ lục III của Thông tư này cho phù hợp);
Văn bản pháp lý chứng minh những thông tin thay đổi, bổ sung tương ứng của nhà thầu.
3. Các hình thức thực hiện đăng ký
Việc đăng ký vào Hệ thống dữ liệu thông tin về nhà thầu được thực hiện theo các hình thức sau:
a) Hình thức bắt buộc:
Nộp hồ sơ:
Gửi theo đường bưu điện bản chính hồ sơ đăng ký tới cơ quan tiếp nhận được quy định tại khoản 1 và khoản 2 mục I
Phần 5 của Thông tư này, hoặc
Phần 5 của Thông tư này.
Mục nhận tin trong trang web của Bộ Kế hoạch và Đầu tư:
Phần 5 của Thông tư này.
Điều 1 Nghị định 66/CP) để tham gia quá trình lựa chọn nhà thầu thuộc lĩnh vực tham dự thầu mà nhà thầu đó đã đăng ký trên phạm vi toàn quốc.
c. Trường hợp hồ sơ nộp theo hình thức bắt buộc nhưng nội dung không hợp lệ (nghĩa là không đáp ứng đủ giấy tờ như quy định tại khoản 1 mục II
Phần 5 của Thông tư này, hoặc có nội dung khai không đủ, không thống nhất giữa các thông tin trong hồ sơ), trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ (trừ ngày nghỉ theo quy định của pháp luật), cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải thông báo về yêu cầu chuẩn xác, bổ sung hồ sơ (theo Mẫu 4 Phụ lục III của Thông tư này) và gửi cho nhà thầu qua đường bưu điện theo địa chỉ mà nhà thầu đăng ký.
Điều 1 Nghị định 66/CP) để tham gia quá trình lựa chọn nhà thầu.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ hướng dẫn riêng về quy trình phối hợp để xử lý và đăng tải thông tin về nhà thầu giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Sở Kế hoạch và Đầu tư.
5. Thay đổi, bổ sung dữ liệu thông tin về nhà thầu đã đăng ký
Khi cần thay đổi, bổ sung dữ liệu thông tin đã đăng ký, nhà thầu cần lập và nộp hồ sơ đăng ký theo các hình thức và trình tự đăng ký như quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 mục II
Phần 5 của Thông tư này.
Phần 6
Điều 1 Nghị định 66/CP)
Kiểm tra thực hiện công tác đấu thầu được tiến hành đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan tới quá trình lựa chọn nhà thầu của các gói thầu thuộc các dự án là đối tượng áp dụng Quy chế Đấu thầu (sau đây gọi tắt là đối tượng chịu sự kiểm tra).
I. Phân cấp kiểm tra thực hiện công tác đấu thầu
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư:
a. Kiểm tra thực hiện công tác đấu thầu trong phạm vi toàn quốc theo chức năng;
b. Kiểm tra thực hiện công tác đấu thầu của các dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư và các dự án nhóm A được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư, các dự án liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh (quy định tại điểm b, khoản 2
Điều 2 Nghị định 88/CP) do mình cấp giấy phép đầu tư;
c. Kiểm tra những sự việc cụ thể khi Thủ tướng Chính phủ yêu cầu.
2. Các Bộ (ngoài Bộ Kế hoạch và Đầu tư), cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBND các cấp (sau đây gọi tắt là Bộ ngành và Địa phương) :
a. Quyết định và tổ chức kiểm tra thực hiện công tác đấu thầu đối với các đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình và các dự án do mình quyết định thực hiện (kể cả các dự án phân cấp và uỷ quyền cho cấp dưới), các dự án liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh (quy định tại điểm b, khoản 2
Điều 2 Nghị định 88/CP) do mình cấp giấy phép đầu tư và do các ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất được uỷ quyền cấp giấy phép đầu tư, các dự án thuộc công ty cổ phần (quy định tại điểm b, khoản 2
Điều 2 Nghị định 88/CP) thuộc phạm vi quản lý của mình;
b. Kiểm tra những sự việc cụ thể khi Thủ tướng Chính phủ yêu cầu.
II. Hình thức kiểm tra thực hiện công tác đấu thầu
Việc kiểm tra thực hiện công tác đấu thầu được tiến hành theo 2 hình thức sau:
1. Kiểm tra định kỳ:
Kiểm tra định kỳ là việc kiểm tra theo kế hoạch do người có thẩm quyền của cơ quan kiểm tra quyết định trên cơ sở các mốc thời gian: quý, 6 tháng hoặc một năm đối với các hoạt động về đấu thầu của đối tượng thuộc phạm vi kiểm tra.
Để chủ động trong công tác kiểm tra, cơ quan kiểm tra cần có kế hoạch kiểm tra định kỳ cả năm, bao gồm các nội dung sau:
a) Danh sách đối tượng, phạm vi cần tiến hành kiểm tra trong năm;
b) Thời gian tiến hành;
c) Nội dung kiểm tra.
2. Kiểm tra đột xuất :
Kiểm tra đột xuất là việc kiểm tra theo từng sự việc khi gói thầu có các vướng mắc (khi có các khiếu nại, tố cáo, các dấu hiệu vi phạm pháp luật về đấu thầu hoặc các vướng mắc khác) theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu của người có thẩm quyền của cơ quan kiểm tra.
III. Nội dung kiểm tra thực hiện công tác đấu thầu
1. Đối với kiểm tra định kỳ:
a. Kiểm tra việc nghiên cứu các quy định về đấu thầu như: tình hình phổ biến hướng dẫn, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ đấu thầu;
b. Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch đấu thầu và quá trình lựa chọn nhà thầu (bao gồm: kế hoạch đấu thầu được duyệt, trình tự thực hiện đấu thầu, các căn cứ pháp lý để triển khai thực hiện, lý do không áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi, kết quả trúng thầu, giá trị ký hợp đồng, tình hình thực hiện hợp đồng và các nội dung liên quan khác);
c. Kiểm tra về tình hình đội ngũ cán bộ, chuyên gia tham gia quá trình lựa chọn nhà thầu;
d. Xem xét những tồn tại trong công tác đấu thầu.
2. Đối với kiểm tra đột xuất:
Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể mà việc kiểm tra đột xuất công tác đấu thầu tập trung vào một số nội dung sau:
a) Về pháp lý:
Các căn cứ pháp lý để tổ chức thực hiện lựa chọn nhà thầu: các văn bản pháp lý như quyết định đầu tư (hoặc giấy phép đầu tư), quyết định phê duyệt kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu, phê duyệt thiết kế - tổng dự toán, dự toán (đối với đấu thầu xây lắp), phê duyệt danh sách nhà thầu tham gia đấu thầu hạn chế và các nội dung liên quan khác;
Tư cách hợp lệ của bên mời thầu, tổ chuyên gia, tư vấn đấu thầu: quyết định thành lập, chức năng, nhiệm vụ;
Tư cách hợp lệ của nhà thầu: đăng ký tên trong Hệ thống dữ liệu thông tin về nhà thầu, năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của nhà thầu.
b) Về trình tự thực hiện các công việc lựa chọn nhà thầu theo qui định.
c) Về kết quả lựa chọn nhà thầu so với yêu cầu của hồ sơ mời thầu:
Kinh nghiệm và năng lực nhà thầu được lựa chọn (đặc biệt là đối với gói thầu có giá trúng thầu quá thấp so với giá gói thầu, các gói thầu áp dụng hình thức chỉ định thầu);
Sự đáp ứng về mặt kỹ thuật của hồ sơ dự thầu được lựa chọn;
Về giá trúng thầu (đặc biệt đối với giá trúng thầu quá thấp so với giá gói thầu), giá ký hợp đồng, loại hợp đồng và các nội dung liên quan khác.
Những vướng mắc cụ thể, thắc mắc của cá nhân, tập thể bên mời thầu, của nhà thầu (nếu có) và biện pháp xử lý;
d) Những nội dung liên quan khác.
IV. Trình tự kiểm tra thực hiện công tác đấu thầu
Cơ quan tổ chức kiểm tra tiến hành thực hiện theo trình tự sau:
1. Chuẩn bị kiểm tra:
a) Quyết định thành lập Đoàn kiểm tra;
b) Phê duyệt kế hoạch kiểm tra chi tiết do Đoàn kiểm tra xây dựng;
c) Gửi quyết định thành lập Đoàn kiểm tra, kế hoạch kiểm tra chi tiết cho đối tượng chịu sự kiểm tra trong thời gian tối thiểu 5 ngày trước khi tiến hành công tác kiểm tra.
2. Tiến hành kiểm tra :
Đoàn kiểm tra thực hiện kiểm tra trong thời gian tối đa là 30 ngày trên cơ sở kế hoạch kiểm tra chi tiết được duyệt. Khi tiến hành kiểm tra, Đoàn kiểm tra thực hiện việc thu thập, nghiên cứu tài liệu, trao đổi với đối tượng chịu sự kiểm tra để lập Báo cáo kết quả kiểm tra.
Trước khi trình Báo cáo kết quả kiểm tra để cơ quan kiểm tra xem xét, Đoàn kiểm tra cần tham khảo ý kiến của đối tượng chịu sự kiểm tra.
3. Xử lý kết quả kiểm tra :
Người có thẩm quyền của cơ quan kiểm tra cần có kết luận về Báo cáo kết quả kiểm tra của Đoàn kiểm tra và gửi cho đối tượng chịu sự kiểm tra, quyết định các biện pháp thích hợp để xử lý như tổ chức thanh tra, chuyển hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền liên quan giải quyết. Trường hợp có yếu tố cấu thành tội phạm, cơ quan kiểm tra cần chuyển cho cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật.
Cơ quan kiểm tra có trách nhiệm theo dõi việc khắc phục các tồn tại đã nêu trong kết luận Báo cáo kết quả kiểm tra.
V. Trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan tổ chức kiểm tra
1. Tổ chức kiểm tra thực hiện công tác đấu thầu theo qui định ở mục III và mục IV
Phần này;
Phần này;
Phần 7
Điều 60 Nghị định 88/CP và
khoản 26
Điều 1 Nghị định 66/CP)
Việc tổ chức xử lý đối với các tổ chức và cá nhân vi phạm pháp luật về đấu thầu được thực hiện như sau:
I. Đối với nhà thầu
1. Người có thẩm quyền phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu có thẩm quyền và chịu trách nhiệm ra văn bản xử lý vi phạm, trong đó nêu rõ: tên tổ chức và cá nhân vi phạm, nội dung vi phạm, các hình thức và mức độ xử lý vi phạm (trừ trường hợp có yếu tố cấu thành tội phạm, do cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật). Văn bản xử lý vi phạm được gửi cho đương sự, cơ quan quản lý cấp trên của đương sự, bên mời thầu, chủ dự án, cơ quan cấp trên của chủ dự án, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (cơ quan quản lý Tờ thông tin về đấu thầu và trang Web về đấu thầu của Nhà nước), và các cơ quan hành chính và pháp luật có liên quan khác.
1. Trường hợp nhà thầu vi phạm pháp luật về đấu thầu, bị đăng trên Tờ thông tin về đấu thầu và trang Web về đấu thầu của Nhà nước nhiều lần, Bộ Kế hoạch và Đầu tư căn cứ vào quy định tại điểm 2 (h) khoản 26
Điều 1 Nghị định 66/CP sẽ ra thông báo trên Tờ thông tin về đấu thầu hoặc trang Web về đấu thầu về việc cấm nhà thầu không được tham dự thầu trong phạm vi 1 năm, 2 năm, 3 năm hoặc vĩnh viễn.
2. Số tiền bảo lãnh dự thầu do nhà thầu vi phạm Quy chế Đấu thầu không được nhận lại sẽ được nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
II. Đối với bên mời thầu, các tổ chức và cá nhân có liên quan
Người có thẩm quyền có trách nhiệm ra văn bản xử lý vi phạm, trong đó nêu rõ: tên tổ chức và cá nhân vi phạm, nội dung vi phạm, các hình thức và mức độ xử lý vi phạm. Văn bản xử lý vi phạm được gửi cho đương sự, cơ quan quản lý cấp trên của đương sự, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (cơ quan quản lý Tờ thông tin về đấu thầu và trang Web về đấu thầu của Nhà nước), và các cơ quan hành chính và pháp luật có liên quan khác.
Phần 8
Điều 1 Nghị định 66/CP, việc thoả thuận các nội dung có liên quan trong đấu thầu đối với các dự án liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh, dự án cổ phần theo quy định tại điểm b khoản 2
Điều 2 Nghị định 88/CP là thuộc trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Hiện tại, do chưa có văn bản quy định rõ người đại diện chủ sở hữu thì cơ quan có trách nhiệm thoả thuận các nội dung theo quy định tại điểm 5 khoản 19
Điều 1 Nghị định 66/CP là Hội đồng quản trị Tổng công ty nhà nước hoặc chủ doanh nghiệp nhà nước tham gia liên doanh hoặc cổ phần, phù hợp với việc phân cấp trong Quy chế quản lý Đầu tư và Xây dựng như ý kiến của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 1336/CP-CN ngày 2/10/2003.
Thời gian thoả thuận kế hoạch đấu thầu và thoả thuận kết quả lựa chọn nhà thầu không quá 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
III. Công khai hoá tiêu chuẩn đánh giá
1. Theo quy định tại khoản 12 và khoản 15
Điều 1 Nghị định 66/CP, tiêu chuẩn đánh giá đối với gói thầu mua sắm hàng hóa hoặc xây lắp phải được nêu trong hồ sơ mời thầu. Quy định này cũng được áp dụng đối với các gói thầu tuyển chọn tư vấn. Hồ sơ mời sơ tuyển (bao gồm tiêu chuẩn đánh giá sơ tuyển) do chủ dự án xây dựng và phê duyệt.
2. Hồ sơ mời sơ tuyển (bao gồm tiêu chuẩn đánh giá sơ tuyển) do chủ dự án xây dựng và phê duyệt.
IV. Phê duyệt hợp đồng
Vịêc phê duyệt hợp đồng là trách nhiệm của chủ dự án theo quy định tại điểm 2 khoản 10
Điều 1 Nghị định 66/CP. Nội dung hợp đồng được phê duyệt phải phù hợp với kết quả lựa chọn nhà thầu đã được người hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt, phù hợp với yêu cầu của hồ sơ mời thầu, nội dung hồ sơ dự thầu và các giải thích làm rõ của nhà thầu trúng thầu.
V. Công tác thẩm định
Theo quy định tại điểm 3(c) khoản 19
Điều 1 Nghị định 66/CP, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch đấu thầu, phê duyệt hoặc uỷ quyền phê duyệt hồ sơ mời thầu và phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu tất cả các gói thầu của dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của mình. Để đảm bảo tính thống nhất với điểm 2(b) khoản 20
Điều 1 Nghị định 66/CP, Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan thẩm định giúp Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trước khi phê duyệt kế hoạch đấu thầu và kết quả lựa chọn nhà thầu đối với các gói thầu thuộc thẩm quyền của mình. Riêng đối với hồ sơ mời thầu, cơ quan thẩm định có thể là Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc một đơn vị chuyên ngành của Địa phương. Đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định của cấp huyện và cấp xã thì người có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch đấu thầu trên cơ sở thẩm định của bộ phận giúp việc có liên quan.
Đối với việc thẩm định kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu và kết quả lựa chọn nhà thầu thuộc các Bộ ngành thì đơn vị thẩm định có thể là Vụ Kế hoạch và Đầu tư hoặc một đơn vị được giao thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.
VI. Mối quan hệ giữa các Nghị định và Thông tư này với Thông tư 04
Trong trường hợp có sự mâu thuẫn về nội dung giữa các Nghị định 88/CP, 14/CP và 66/CP thì lấy nội dung của Nghị định 66/CP làm cơ sở.
Trong quá trình triển khai thực hiện, trường hợp Thông tư 04 có những mâu thuẫn với các nội dung của Nghị định 66/CP và Thông tư này thì thực hiện theo các quy định tại Nghị định 66/CP và Thông tư này.
VII. Thời hạn áp dụng đăng tải thông tin trên Tờ thông tin về đấu thầu, trang Web về đấu thầu và Hệ thống dữ liệu thông tin về nhà thầu
Việc đăng tải thông báo mời thầu và đăng ký dữ liệu thông tin về nhà thầu trên Tờ thông tin về đấu thầu, trang Web về đấu thầu và Hệ thống dữ liệu thông tin về nhà thầu do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý để làm căn cứ cho việc đấu thầu chỉ có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư có thông báo chính thức sau này. Trước thời điểm này, việc thông báo mời sơ tuyển, thông báo mời thầu cũng như quy định về điều kiện tham dự thầu được thực hiện như hiện tại đang làm.
VIII. Thanh tra đấu thầu
Việc thanh tra đấu thầu được thực hiện theo khoản 25
Điều 1 Nghị định 66/CP. Thanh tra đấu thầu là một bộ phận của công tác thanh tra thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo chức năng được quy định trong Nghị định 61/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Công tác thanh tra đấu thầu sẽ được Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện trong Thông tư riêng.
IX. Mẫu hồ sơ mời thầu
Mẫu hồ sơ mời thầu quy định tại
Điều 4 Nghị định 66/CP sẽ do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành tại văn bản riêng. Trong thời gian chưa có văn bản ban hành, mẫu hồ sơ mời thầu được sử dụng là các mẫu hướng dẫn nêu tại các Phụ lục I, II, III trong Thông tư 04/2000/TT-BKH ngày 26/5/2000 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Phần 9
Mục II
Chương III
Phần thứ tư của Thông tư 04).
Mục II
Chương II
Phần thứ tư của Thông tư 04.