THÔNG TƯ Hướng dẫn chế độ quản lý tài chính Nhà nước đối với nguồn viện trợ không hoàn lại
Căn cứ Luật Ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20/3/1996; Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Ngân sách Nhà nước số 06/1998/QH10 ngày 20/5/1998 và các văn bản hướng dẫn dưới Luật hiện hành
Căn cứ Nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày 04/5/2001 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức;
Căn cứ Quyết định số 64/2001/QĐ-TTg ngày 26/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài; Bộ Tài Chính hướng dẫn chế độ quản lý tài chính Nhà nước đối với nguồn viện trợ không hoàn lại của nước ngoài như sau: I. NGUYÊN TẮC CHUNG: 1. Viện trợ không hoàn lại là các khoản trợ giúp không phải hoàn trả dưới hình thức tiền, hiện vật, tri thức, từ các Chính phủ, các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ (NGO) nước ngoài, các tổ chức kinh tế, hoặc cá nhân người nước ngoài cho Việt Nam nhằm phát triển kinh tế - xã hội, hoặc các mục đích nhân đạo khác được thực hiện thông qua các văn kiện chính thức ký kết giữa hai bên, được cấp có thẩm quyền phê duyệt và các khoản trợ giúp nhân đạo, cứu trợ khẩn cấp nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, thiên tai. Mọi sự chuyển giao khác không thuộc phạm vi quy định trên đều được coi là quà tặng, không thuộc đối tượng quản lý hướng dẫn tại Thông tư này. Các khoản viện trợ không hoàn lại nước ngoài là nguồn thu của ngân sách nhà nước và phải được hạch toán đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước 2. Bộ Tài Chính thống nhất quản lý tài chính Nhà nước đối với mọi nguồn viện trợ không hoàn lại, từ khâu tham gia ý kiến về mặt tài chính trong việc xác định chủ trương sử dụng viện trợ; tham gia thẩm định dự án, phân bổ nguồn vốn cho các dự án; đến nghiên cứu ban hành cơ chế quản lý tài chính, thực hiện việc xác nhận viện trợ và hạch toán các nguồn viện trợ vào ngân sách; hướng dẫn và kiểm tra việc chấp hành các chế độ quản lý tài chính, thẩm tra quyết toán, hướng dẫn bàn giao tài sản, vật tư, tiền vốn của các dự án sau khi kết thúc theo những quy định tại Thông tư này. - Vụ hoặc Ban Tài chính - kế toán của các Bộ, Ngành, đoàn thể có trách nhiệm giúp Thủ trưởng Bộ, Ngành, tổ chức đoàn thể quản lý tài chính đối với toàn bộ các chương trình, dự án, khoản viện trợ không hoàn lại do Bộ, Ngành Trung ương tiếp nhận và thực hiện. - Sở Tài chính Vật giá các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Tài chính - Vật giá Quận, Huyện; Ban Tài chính xã, phường có trách nhiệm giúp UBND các cấp quản lý tài chính đối với toàn bộ các chương trình, dự án, các khoản viện trợ không hoàn lại do các đơn vị thuộc địa phương tiếp nhận và thực hiện; giám sát tình hình thực hiện các chương trình, dự án viện trợ Trung ương thực hiện trên địa bàn. 3. Giám đốc các chương trình, dự án, Thủ trưởng các đơn vị trực tiếp sử dụng nguồn viện trợ không hoàn lại chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện đúng các mục tiêu, đối tượng và các cam kết khác đã ghi trong từng chương trình, dự án cũng như chế độ quản lý tài chính hướng dẫn tại Thông tư này. II. NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ: A. LẬP VÀ TỔNG HỢP DỰ TOÁN Hàng năm, căn cứ hướng dẫn lập dự toán Ngân sách Nhà nước của Bộ Tài chính, các văn bản cam kết hoặc thoả thuận và kế hoạch triển khai chương trình, dự án hoặc thông báo phân phối viện trợ của cơ quan chủ quản cho đơn vị, tình hình thực hiện dự án trong năm; các đơn vị hoặc chủ dự án lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước về viện trợ không hoàn lại và vốn đối ứng (nếu có) cùng với dự toán ngân sách của mình gửi cơ quan chủ quản dự án và cơ quan tài chính đồng cấp: - Dự án thuộc các Bộ, Ngành gửi Vụ Tài chính Kế toán của Bộ, Ngành. - Dự án thuộc các địa phương gửi cơ quan Tài chính cùng cấp. Các Bộ, Ngành Trung ương và các Sở Tài chính - Vật giá có trách nhiệm tổng hợp dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước về viện trợ không hoàn lại thuộc phạm vi mình quản lý và nhu cầu vốn đối ứng (nếu có) gửi Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp chung trong NSNN. Dự toán về vốn đối ứng được lập theo quy định tại Nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày 4/5/2001 của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn chi tiết thi hành áp dụng chung cho các chương trình, dự án viện trợ ODA và viện trợ phi chính phủ nước ngoài. Dự toán thu, chi ngân sách nhà nước về viện trợ không hoàn lại được lập theo Biểu số 3 ban hành kèm theo Thông tư này. B. CHẾ ĐỘ SỬ DỤNG VIỆN TRỢ: - Tất cả các hoạt động chi tiêu phải có dự toán cụ thể và căn cứ vào các khoản mục đã được cơ quan tài trợ chấp thuận, chi tiêu đúng đối tượng, đúng mục đích và không được chi vượt mức đã thoả thuận với phía nước ngoài. - Trường hợp văn kiện dự án không có dự toán đầy đủ chi tiết, cụ thể thì đơn vị thực hiện cần căn cứ các điều khoản đã cam kết với phía nước ngoài và căn cứ định mức chi tiêu trong nước để chi. - Ngoài các khoản chi cụ thể đã được ghi rõ trong các văn kiện dự án, các đơn vị không được tự ý dùng nguồn tiền viện trợ để chi cho bất cứ một mục đích gì khác. Giám đốc các dự án hoặc cơ quan cấp trên quản lý trực tiếp không được điều hoà nguồn kinh phí viện trợ giữa các đơn vị, trừ trường hợp được phép bằng văn bản của tổ chức viện trợ và cơ quan phê duyệt dự án. - Lãi tiền gửi ngân hàng của các chương trình, dự án viện trợ thuộc diện ngân sách cấp phát đang trong quá trình thực hiện, đơn vị phải sử dụng đúng theo cam kết với nhà tài trợ. Trường hợp khoản lãi tiền gửi viện trợ không đề cập trong văn kiện dự án hoặc có đề cập trong văn kiện dự án nhưng dự án đã kết thúc mà khoản lãi tiền gửi viện trợ chưa sử dụng hết thì tất cả khoản lãi tiền gửi viện trợ đó là nguồn của Ngân sách Nhà nước. Khi quyết toán dự án hoàn thành được phê duyệt, đơn vị phải nộp khoản lãi tiền gửi viện trợ đó vào Ngân sách Nhà nước. Trước khi dự án kết thúc hoặc trước khi có quyết định phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành, nếu dự án có bổ sung thêm nội dung chi tiêu hoặc đơn vị có mục đích chi tiêu khác, đơn vị chỉ được phép sử dụng khoản lãi tiền gửi viện trợ này khi có quyết định phê duyệt của cấp có thẩm quyền về mục đích và nội dung chi tiêu và có chứng từ cấp phát của cơ quan tài chính (cấp phát dưới hình thức ghi thu ghi chi). - Đối với các chương trình, dự án viện trợ thuộc diện ngân sách cấp phát dưới hình thức cấp phát nguồn kinh phí hành chính sự nghiệp, việc mua sắm, trang thiết bị và các dịch vụ phải tuân thủ các quy định trong văn kiện dự án và các quy định hiện hành của Nhà nước về mua sắm hàng hoá, trang thiết bị. - Trường hợp các chương trình, dự án sử dụng tiền, hàng viện trợ để đầu tư xây dựng cơ bản, sửa chữa trụ sở, công trình kiến trúc và các công trình kết cấu hạ tầng phải tổ chức đấu thầu hoặc chọn thầu theo quy định ghi trong văn kiện dự án, nếu không có thoả thuận thì thực hiện theo quy định hiện hành của Chính phủ về quản lý đấu thầu các công trình đầu tư xây dựng cơ bản. - Trường hợp các chương trình, dự án sử dụng tiền viện trợ để trả lương cho cán bộ Việt Nam tham gia quản lý, thực hiện chương trình, dự án viện trợ thì người được hưởng lương chi trả từ nguồn viện trợ phải có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế thu nhập. C. THỰC HIỆN TIẾP NHẬN, QUẢN LÝ VÀ HẠCH TOÁN QUA NSNN NGUỒN VIỆN TRỢ 1. Giải ngân vốn viện trợ: Khi chương trình, dự án viện trợ được ký kết và phê duyệt, cơ quan chủ quản chương trình, dự án và cơ quan chủ chương trình, dự án có trách nhiệm khẩn trương hoàn tất các điều kiện và thủ tục cần thiết cho việc giải ngân vốn viện trợ. Trường hợp việc giải ngân vốn viện trợ của chương trình, dự án phải thực hiện qua một ngân hàng thương mại thì việc lựa chọn ngân hàng được uỷ quyền rút vốn sẽ do Bộ Tài Chính quyết định. Ngân hàng Thương mại được Bộ Tài chính uỷ quyền làm dịch vụ rút vốn viện trợ được hưởng phí theo quy định hiện hành do chủ chương trình, dự án thanh toán bằng nguồn vốn đối ứng trong nước hoặc theo thoả thuận với bên tài trợ. 2. Xác nhận viện trợ: Giám đốc các chương trình, dự án viện trợ, thủ trưởng các đơn vị nhận viện trợ chịu trách nhiệm làm thủ tục xác nhận viện trợ theo các quy định dưới đây: 2.1. Các khoản viện trợ không hoàn lại phải làm xác nhận viện trợ bao gồm: - Các công trình xây dựng cơ bản do các nhà thầu thực hiện theo hình thức "chìa khoá trao tay" thể hiện qua các văn bản bàn giao, quyết toán, các Hợp đồng giao nhận thầu. - Hàng hoá, thiết bị ghi trong danh mục kèm theo dự án hoặc trong thông báo viện trợ được nhập khẩu, đặt mua trong nước. - Ngoại tệ hoặc tiền Việt Nam do phía nước ngoài chuyển giao cho các đơn vị trong nước nhận và trực tiếp sử dụng để thực hiện các thoả thuận viện trợ (bao gồm cả khoản tài trợ cho hoạt động mang tính chất công vụ phí của văn phòng dự án theo cam kết trong văn kiện dự án). - Các dịch vụ tư vấn, dịch vụ kỹ thuật được thanh toán từ nguồn của các chương trình, dự án viện trợ không hoàn lại thể hiện qua Hợp đồng được ký kết giữa chủ dự án với công ty tư vấn trong và ngoài nước. 2.2. Giấy xác nhận viện trợ: - Giấy xác nhận viện trợ được lập theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư này. (Mẫu số 1 và số 2) - Giấy xác nhận viện trợ gồm 2 phần:
Phần 1 của giấy xác nhận viện trợ là phần xác nhận của cơ quan tài chính.
Phần 2 là phần kê khai của đơn vị nhận viện trợ. Đơn vị nhận viện trợ phải kê khai đầy đủ các dữ kiện ghi trong mẫu giấy xác nhận viện trợ và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của tư liệu, số liệu do đơn vị tự kê khai.
Chương 160, Loại 10, Khoản 8 (hoặc 9),
Mục tương ứng của
Mục lục NSNN hiện hành; ghi chi tạm ứng vốn đầu tư xây dựng cơ bản qua hệ thống Kho bạc Nhà nước và sao gửi bảng kê chi tiết tên và địa chỉ các đơn vị sử dụng viện trợ để cơ quan Kho Bạc Nhà nước cấp phát cho đơn vị theo chế độ quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản hiện hành.
Mục tương ứng của
Mục lục NSNN hiện hành. Trường hợp một đơn vị dự toán cấp I Ngân sách Trung ương có nhiều đơn vị thụ hưởng thì kèm theo Lệnh thu chi NSNN ghi cho đơn vị dự toán cấp I là bảng kê chi tiết tên, địa chỉ, giá trị viện trợ cụ thể cho từng đơn vị thụ hưởng thuộc đơn vị dự toán cấp I đó. Các đơn vị dự toán cấp I có trách nhiệm đối chiếu, kiểm tra và thông báo tiếp cho các đơn vị thuộc cấp của mình theo mẫu thông báo cấp phát vốn viện trợ cho các đơn vị trực thuộc do Bộ Tài chính quy định. (Biểu số 5 ban hành kèm theo Thông tư này). Thông báo này được coi là chứng từ cấp phát vốn NSNN cho đơn vị thụ hưởng trực tiếp. Căn cứ thông báo cấp vốn của đơn vị dự toán cấp I, các đơn vị thụ hưởng viện trợ phải hạch toán giá trị viện trợ được cấp phát vào sổ sách kế toán, quản lý và quyết toán hàng năm với đơn vị cấp trên của mình.
Chương quy định của
Mục lục NSNN, hoặc không được Nhà nước đảm bảo cân đối kinh phí hoạt động theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước, việc hạch toán ghi thu vẫn theo quy định trên, nhưng ghi chi vào
Chương 150 "Các đơn vị khác", loại, khoản, hạng, mục tương ứng của
Mục lục NSNN hiện hành, coi như một khoản hỗ trợ của NSNN cho đơn vị đó. Tài sản được hình thành từ nguồn hỗ trợ này là tài sản Nhà nước phải được quản lý theo các quy định hiện hành về quy chế quản lý tài sản Nhà nước tại các Hội.
Mục tương ứng của
Mục lục Ngân sách Nhà nước hiện hành.
Mục lục NSNN hiện hành.
Mục 151 hoặc
Mục 152, tiểu mục tương ứng theo Chương, Loại, Khoản tương ứng của
Mục lục NSNN hiện hành.
Điều 35 Nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày 4/5/2001 của Chính phủ và
Điều 20 của bản Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 64/2001/QĐ-TTg ngày 26/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ.
2. Chế độ kiểm tra:
Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra và hướng dẫn các đơn vị trực thuộc thực hiện nghiêm túc các chế độ quản lý tài chính nguồn viện trợ không hoàn lại được quy định tại Thông tư này:
Vụ Tài chính Kế toán của các Bộ, Ngành kiểm tra và hướng dẫn các chương trình, dự án viện trợ không hoàn lại do các đơn vị trực thuộc Bộ, Ngành Trung ương tiếp nhận và thực hiện.
Sở Tài chính Vật giá các Tỉnh, Thành phố và các Phòng Tài chính vật giá quận, huyện, thị xã kiểm tra và hướng dẫn các chương trình, dự án, các khoản viện trợ không hoàn lại do các đơn vị trực thuộc địa phương tiếp nhận và thực hiện.
Trường hợp cần thiết, Bộ Tài chính kiểm tra đối với các chương trình, dự án hoặc các khoản viện trợ không hoàn lại do các đơn vị trực thuộc Bộ, Ngành Trung ương hoặc địa phương tiếp nhận và thực hiện.
3. Chế độ quyết toán.
Hàng năm và khi kết thúc dự án, căn cứ vào các quy định hiện hành, Giám đốc chương trình, dự án viện trợ, thủ trưởng các đơn vị sử dụng viện trợ có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán thu chi viện trợ cụ thể như sau:
3.1. Đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản: Việc quyết toán thực hiện theo đúng quy định tại Thông tư 70/2000/TT-BTC ngày 17/7/2000 của Bộ Tài Chính hướng dẫn quyết toán vốn đầu tư.
3.2. Đối với các dự án hành chính sự nghiệp:
Nội dung và mẫu biểu báo cáo quyết toán thực hiện theo quy định hiện hành tại Quyết định số 999 TC/QĐ/CĐKT ngày 2/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Hệ thống Chế độ Kế toán hành chính sự nghiệp.
3.2.1. Quyết toán năm:
Bộ Tài Chính chủ trì thẩm tra báo cáo quyết toán năm về nguồn thu và sử dụng viện trợ của các Bộ, Ngành Trung ương cùng với việc thẩm tra quyết toán kinh phí hành chính sự nghiệp. Căn cứ vào biên bản thẩm tra quyết toán nguồn viện trợ, Bộ Tài chính sẽ thông báo duyệt tổng số quyết toán chi hành chính sự nghiệp, trong đó có quyết toán nguồn viện trợ của Bộ, Ngành Trung ương. Vốn đối ứng của các dự án được quyết toán như quyết toán nguồn kinh phí Ngân sách Nhà nước cấp theo quy định hiện hành.
Sở Tài chính Vật giá các Tỉnh, Thành phố và Phòng Tài chính Vật giá quận, huyện, thị xã Chủ trì thẩm tra quyết toán thu và sử dụng viện trợ hàng năm của các đơn vị thuộc địa phương quản lý cùng với việc thẩm tra quyết toán kinh phí hành chính sự nghiệp.
3.2.2. Quyết toán dự án:
Tất cả các chương trình, dự án và khoản viện trợ được cấp có thẩm quyền phê duyệt khi kết thúc đều phải được quyết toán đầy đủ và gửi đến cơ quan tài chính đồng cấp theo đúng quy định hiện hành.
3.3. Một số điểm cần lưu ý khi quyết toán:
3.3.1. Khi dự án kết thúc đã quyết toán xong với nhà tài trợ mà vẫn còn thừa tiền, Giám đốc dự án báo cáo phương án xử lý với cơ quan chủ quản và cơ quan tài chính đồng cấp (như quy định tại phần gửi báo cáo quyết toán) xem xét, quyết định.
3.3.2. Việc phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành phải đảm bảo tuân thủ các quy định hiện hành của Bộ Tài chính.
3.3.3. Cùng với việc gửi báo cáo quyết toán dự án hoàn thành, chủ dự án phải báo cáo phương án xử lý tài sản, công nợ và các vấn đề tồn tại khác với cơ quan chủ quản và cơ quan tài chính đồng cấp. Cơ quan chủ quản dự án có trách nhiệm tham khảo ý kiến của cơ quan tài chính đồng cấp và ý kiến của các cơ quan hữu quan để xem xét, quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định phê duyệt phương án xử lý tồn tại của dự án trước khi phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Thông tư này thay thế Thông tư số 22/1999/TT/BTC ngày 26/02/1999 của Bộ Tài chính và có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký.
2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị, các chủ dự án cần phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu, giải quyết.