THÔNG TƯ Hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Căn cứ Luật đất đai ngày 14 tháng 7 năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai ngày 02 tháng 12 năm 1998 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29 tháng 6 năm 2001
Căn cứ Nghị định số 34/CP ngày 23 tháng 4 năm 1994 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Địa chính;
Căn cứ Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 17/1999/NĐ-CP;
Căn cứ Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai; Nghị định số 66/2001/NĐ-CP ngày 28 tháng 9 năm 2001 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 04/2000/NĐ-CP; Tổng cục Địa chính hướng dẫn việc đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau: Chương1: QUY ĐỊNH CHUNG 1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, tổ chức và cá nhân nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài và sử dụng đất tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở (sau đây gọi chung là người sử dụng đất) đều phải thực hiện đăng ký đất đai theo quy định tại Thông tư này. Người sử dụng đất không thực hiện đăng ký đất đai sẽ không được thực hiện các quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai; tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật. 2. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) chịu trách nhiệm tổ chức việc đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại địa phương mình theo quy định của Thông tư này. 3. Hồ sơ địa chính được lập theo đơn vị hành chính cấp xã; mẫu hồ sơ địa chính do Tổng cục Địa chính ban hành kèm theo Thông tư này và áp dụng thống nhất trong cả nước. 4. Người sử dụng đất sau khi thực hiện kê khai đăng ký đất đai thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Tổng cục Địa chính phát hành, sử dụng thống nhất trong cả nước. 5. Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định tại khoản 4
Điều 1 Nghị định số 66/2001/NĐ-CP ngày 28 tháng 9 năm 2001 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ (sau đấy gọi tắt là Nghị định số 66/2001/NĐ-CP).
6. Thẩm quyền chứng nhận biến động lên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định như sau:
a) Sở Địa chính, Sở Địa chính - Nhà đất (sau đây gọi chung là Sở Địa chính) chứng nhận biến động vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp.
b) Cơ quan Địa chính cấp huyện chứng nhận biến động vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp.
Chương2:
ĐỐI TƯỢNG KÊ KHAI ĐĂNG KÝ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1. Người chịu trách nhiệm kê khai đăng ký quyền sử dụng đất.
a) Hộ gia đình sử dụng đất do chủ hộ gia đình đại diện hoặc người đại diện khác được chủ hộ uỷ quyền thực hiện việc kê khai đăng ký quyền sử dụng đất.
b) Cá nhân sử dụng đất hoặc người được cá nhân uỷ quyền thực hiện việc kê khai đăng ký quyền sử dụng đất.
c) Tổ chức trong nước sử dụng đất do người đứng đầu hoặc người được người đứng đầu của tổ chức đó uỷ quyền đại diện thực hiện việc kê khai đăng ký quyền sử dụng đất.
Tổ chức trong nước bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế .
d) Đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng đất do thủ trưởng hoặc người được thủ trưởng của đơn vị đầu mối thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an uỷ quyền đại diện thực hiện việc kê khai đăng ký quyền sử dụng đất.
Đơn vị đầu mối thuộc Bộ Quốc phòng bao gồm: Tổng cục, Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chủng, Bộ tư lệnh Biên phòng, Học viện, Nhà trường trực thuộc Bộ Quốc phòng, các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng.
Đơn vị đầu mối thuộc Bộ Công an gồm: Tổng cục, Bộ Tư lệnh, Văn phòng Bộ Công an, Cục quản lý trại giam, Cơ sở giáo dục, Trường giáo dưỡng, các trường thuộc khối đào tạo, Công an các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương.
đ) Cơ sở tôn giáo sử dụng đất quy định tại điểm 1 Thông tư liên tịch số 1646/2000/TTLT-TCĐC-TGCP ngày 30 tháng 10 năm 2000 của Tổng cục Địa chính và Ban Tôn Giáo Chính phủ do người đứng đầu thực hiện việc kê khai đăng ký quyền sử dụng đất.
e) Cộng đồng dân cư sử dụng đát có các công trình đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ hoặc các công trình khác phục vụ lợi ích công cộng của cộng đồng cử người đại diện thực hiện việc kê khai đăng ký quyền sử dụng đất.
g) Tổ chức nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam do người đứng đầu hoặc người được người đứng đầu của tổ chức đó uỷ quyền đại diện thực hiện việc kê khai đăng ký quyền sử dụng đất.
Tổ chức nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam bao gồm: cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác có chức năng ngoại giao của nước ngoài tại Việt Nam; cơ quan đại diện các tổ chức của Liên hợp quốc; cơ quan, tổ chức liên Chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức Liên Chính phủ tại Việt Nam, các tổ chức đầu tư vào Việt Nam theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
h) Cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư vào Việt Nam sử dụng đất tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam thực hiện việc kê khai đăng ký quyền sử dụng đất.
i) Việc uỷ quyền thực hiện kê khai đăng ký quyền sử dụng đất phải bằng văn bản; đối với hộ gia đình, cá nhân, văn bản uỷ quyền phải có chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú theo quy định tại các
Điều 48, 49, 50, 51, 52, 53 của Bộ luật dân sự.
2. Diện tích đất kê khai đăng ký quyền sử dụng đất.
a) Người sử dụng đất có trách nhiệm kê khai toàn bộ diện tích đất đang sử dụng, đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, cho thuê sử dụng; kể cả diện tích đất cho người khác thuê, mượn, diện tích đất chưa đưa vào sử dụng, diện tích đất sử dụng đang có tranh chấp với người khác, diện tích đất của các tổ chức giao cho cán bộ công nhân viên làm nhà ở nhưng chưa bàn giao cho chính quyền địa phương quản lý.
Người đang sử dụng đất thuê, mượn của người khác, đất nhận khoán của các doanh nghiệp nhà nước, đất thuê từ quỹ đất công ích của cấp xã thì không kê khai diện tích đó.
b) Uỷ ban nhân dân cấp xã kê khai các loại đất sau đây:
Đất do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã trực tiếp sử dụng.
Đất sử dụng vào mục đích công cộng ở địa phương do Uỷ ban nhân dân cấp xã trực tiếp quản lý.
Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối hiện do Uỷ ban nhân dân cấp xã trực tiếp quản lý đang cho thuê, mượn hay đấu thầu.
Đất thùng đào, thùng đấu, các đoạn sông cụt, kênh, rạch, đê, đập, đường giao thông, sân phơi, nhà kho, nhà xưởng, trại chăn nuôi và các loại đất chuyên dùng khác hiện không sử dụng, đất mới bồi ven sông, ven biển, đất hoang hoá, đất chưa sử dụng thuộc địa giới hành chính cấp xã.
3. Những trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
a) Người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai;
Những giấy tờ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất cấo trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai trong từng thời kỳ của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà người được giao đất, thuê đất vẫn liên tục sử dụng đất từ đó đến nay;
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ địa chính mà không có tranh chấp;
Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất ở mà người đó vẫn sử dụng đất liên tục từ đó đến nay và không có tranh chấp;
Giấy tờ về thừa kế, tặng, cho nhà ở gắn liền với đất mà được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận và đất đó không có tranh chấp;
Bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật;
Giấy tờ giao nhà tình nghĩa;
Giấy tờ chuyển nhượng đất đai, mua bán nhà ở kèm theo chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất thẩm tra là đất đó không có tranh chấp và được Uỷ ban nhân dân cấp huyện xác nhận kết quả thẩm tra của Uỷ ban nhân dân cấp xã;
Giấy tờ của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp cấp đất cho hộ gia đình, xã viên của hợp tác xã từ trước ngày 28 tháng 6 năm 1971 (ngày ban hành Nghị quyết số 125-CP của Hội đồng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý ruộng đất);
Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà theo quy định của pháp luật.
b) Người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại điểm 3.a của chương này mà đất đó nằm trong quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt nhưng chưa có quyết định thu hồi đất để thực hiện quy hoạch đó thì vẫn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng phải chấp hành đúng các quy định về xây dựng.
c) Người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại điểm 3.a của chương này mà đất đó nằm trong phạm vi bảo vệ an toàn công trình nhưng chưa có quyết định thu hồi đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng phải chấp hành đúng quy định về bảo vệ an toàn công trình theo quy định của pháp luật.
4. Những trường hợp được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
a) Người sử dụng đất có một trong các giấy tờ quy định tại điểm 3.a của chương này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác (do chưa làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật), được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận đất đó không có tranh chấp;
b) Người sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại điểm 3.a của chương này, được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận đất đó không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Trường hợp sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại điểm 3.a của chương này mà đất đó nằm trong quy hoạch sử dụng vào mục đích khác đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
5. Những trường hợp được giao đất, thuê đất từ sau ngày Thông tư này có hiệu lực thì không phải thực hiện kê khai quyền sử dụng đất; người sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi đã hoàn tất thủ tục giao đất, cho thuê đất. Việc đăng ký vào sổ địa chính thực hiện theo quy định tại
Chương 4 Thông tư này.
Chương 2 của Thông tư này.
Chương 2 của Thông tư này).
Chương 2 của Thông tư này là không quá 7 ngày, đối với các trường hợp còn lại là không quá 15 ngày.
Chương 2 của Thông tư này phải thông qua Hội đồng Đăng ký đất đai cấp xã.
Chương 2 của Thông tư này là không quá 7 ngày, đối với các trường hợp còn lại là không quá 15 ngày.
Điều 24a của Luật Đất đai.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan Điạ chính thuộc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định chuyển mục đích sử dụng đất phải hoàn thành việc xem xét hồ sơ, ghi ý kiến vào đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp đủ điều kiện và gửi hồ sơ đến Uỷ ban nhân dân cùng cấp phê duyệt; trường hợp không đủ điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất thì trả lại hồ sơ cho người sử dụng đất và thông báo rõ lý do.
Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
Cơ quan Địa chính thuộc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định chuyển mục đích sử dụng đất thông báo cho người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
Cơ quan Địa chính cấp huyện chứng nhận thay đổi mục đích sử dụng đất vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính và thông báo cho cơ quan quản lý hồ sơ địa chính các cấp để chỉnh lý, giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính.
b) Đối với tổ chức, trình tự thủ tục thực hiện như sau:
Tổ chức sử dụng đất nộp hồ sơ đăng ký tại Sở Địa chính, hồ sơ gồm:
+ Đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất (theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư này);
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
+ Trích lục bản đồ thửa đất hoặc trích đo thực địa (trường hợp chuyển mục đích một phần thửa đất);
+ Dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc chấp thuận.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Địa chính hoàn thành việc thẩm tra hồ sơ, ghi ý kiến vào đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp đủ điều kiện và gửi hồ sơ đến Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; trường hợp không đủ điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất thì trả lại hồ sơ cho người sử dụng đất và thông báo rõ lý do.
Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
Sở Địa chính thông báo cho người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; chứng nhận thay đổi mục đích sử dụng đất vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp; chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính và thông báo cho cơ quan quản lý hồ sơ địa chính các cấp để chỉnh lý hồ sơ địa chính; giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất.
3. Đăng ký chuyển đất nông nghiệp trồng lúa nước sang nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây lâu năm; chuyển đất nông nghiệp trồng cây lâu năm sang trồng cây hàng năm.
a) Đối với hộ gia đình, cá nhân, trình tự thủ tục thực hiện như sau:
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nộp hồ sơ đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất, hồ sơ gồm:
+ Đơn xin chuyển loại đất sử dụng (theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư này);
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
+ Trích lục bản đồ thửa đất hoặc trích đo thực địa (trường hợp chuyển một phần thửa đất).
Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải hoàn thành việc thẩm tra hồ sơ, xác nhận vào đơn xin chuyển loại đất sử dụng và gửi hồ sơ đến cơ quan Địa chính cấp huyện.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan Địa chính cấp huyện hoàn thành việc xem xét hồ sơ, ghi ý kiến vào đơn xin chuyển loại đất sử dụng đối với trường hợp đủ điều kiện và gửi hồ sơ đến Uỷ ban nhân dân cấp huyện; trường hợp không đủ điều kiện thì trả lại hồ sơ cho người sử dụng đất và thông báo rõ lý do.
Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định cho phép chuyển loại đất sử dụng.
Cơ quan Địa chính cấp huyện chứng nhận thay đổi loại đất sử dụng vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính và thông báo cho cơ quan quản lý hồ sơ địa chính các cấp để chỉnh lý hồ sơ địa chính; giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất.
b) Đối với tổ chức kinh tế, trình tự thủ tục thực hiện như sau:
Tổ chức kinh tế sử dụng đất nộp hồ sơ đăng ký tại Sở Địa chính gồm có:
+ Đơn xin chuyển loại đất sử dụng (theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư này);
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
+ Trích lục bản đồ thửa đất hoặc trích đo thực địa (trường hợp chuyển một phần thửa đất);
+ Dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc chấp thuận.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Địa chính hoàn thành việc thẩm tra hồ sơ, ghi ý kiến vào đơn xin chuyển loại đất sử dụng đối với trường hợp đủ điều kiện và gửi hồ sơ đến Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; trường hợp không đủ điều kiện thì trả lại hồ sơ cho người sử dụng đất và thông báo rõ lý do.
Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép chuyển loại đất sử dụng.
Sở Địa chính chứng nhận việc chuyển loại đất sử dụng vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính và thông báo cho cơ quan quản lý hồ sơ địa chính các cấp để chỉnh lý hồ sơ địa chính; giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất.
4. Đăng ký chia tách thửa đất hoặc thay đổi tên chủ sử dụng đất.
a) Việc đăng ký chia tách thửa đất hoặc thay đổi tên chủ sử dụng đất thực hiện trong những trường hợp sau đây:
Tổ chức sử dụng đất chia tách thành nhiều tổ chức pháp nhân mới tiếp tục sử dụng đất hiện có.
Nhiều tổ chức sử dụng đất sát nhập thành một tổ chức sử dụng đất mới.
Tổ chức sử dụng đất thay đổi tên gọi.
Hộ gia đình sử dụng đất chia tách thành nhiều hộ.
Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu chia tách một thửa đất thành nhiều thửa đất mới.
b) Hồ sơ xin đăng ký gồm:
Đơn xin chia tách thửa đất hoặc thay đổi tên chủ sử dụng đất (theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư này).
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
Trích lục bản đồ thửa đất hoặc trích đo thực địa (trường hợp chia tách thửa đất);
Bản sao sổ hộ khẩu (đối với hộ gia đình); quyết định thành lập hoặc đổi tên, tách, nhập (đối với tổ chức).
c) Trình tự thực hiện như sau:
Người sử dụng đất nộp hồ sơ xin đăng ký biến động đất đai tại cơ quan Địa chính thuộc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan Địa chính thuộc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có trách nhiệm thẩm tra, ghi ý kiến vào đơn của người sử dụng đất, gửi hồ sơ đến Uỷ ban nhân dân cùng cấp; trường hợp không đủ điều kiện thì trả lại hồ sơ và thông báo cho người sử dụng đất biết lý do.
Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoàn thành việc xem xét, ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Cơ quan Địa chính thuộc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chịu trách nhiệm chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính, thông báo cho cơ quan quản lý hồ sơ địa chính các cấp để chỉnh lý hồ sơ địa chính; giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất.
d) Trường hợp thay đổi tên chủ sử dụng đất do chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế quyền sử dụng đất thì thực hiện theo Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 17/1999/NĐ-CP (sau đây gọi chung là Nghị định 17/1999/NĐ-CP). Việc chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính thực hiện theo quy định tại
Chương 4 của Thông tư này.
Chương 4:
Điều 34 của Nghị định số 17/1999/NĐ-CP.
e) Trường hợp thu hồi đất: Căn cứ quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và biên bản thu hồi đất ngoài thực địa, cơ quan Địa chính thuộc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chịu trách nhiệm thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp để chỉnh lý hoặc huỷ bỏ, chỉnh lý hồ sơ địa chính và thông báo cho cơ quan quản lý hồ sơ địa chính các cấp để chỉnh lý hồ sơ địa chính.
g) Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày Thông tư này có hiệu lực: Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm chỉnh lý hồ sơ địa chính và thông báo cho cơ quan quản lý hồ sơ địa chính các cấp để chỉnh lý hồ sơ địa chính.
h) Đối với các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất, thay đổi thời hạn sử dụng đất; chia tách thửa đất hoặc thay đổi tên chủ sử dụng đất, biến động diện tích do thiên tại, cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thực hiện chỉnh lý hồ sơ địa chính theo quy định tại mục II
Chương 3 của Thông tư này.
Chương 5: