THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn nội dung và mức chi chương trình quốc gia về thể thao
Căn cứ Nghị định số 87/CP ngày 19/12/1997 của Chính phủ về phân cấp quản lý, lập, chấp hành và quyết toán ngân sách Nhà nước
Căn cứ Nghị định số 51/1998/NĐ-CP ngày 18/7/1998 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 87/CP ngày 19/12/1997 và Thông tư số 103/1998/TT-BTC ngày 18/7/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc phân cấp lập, chấp hành và quyết toán ngân sách Nhà nước;
Căn cứ Quyết định số 531/TTg ngày 8/8/1996 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý các
Chương trình Quốc gia và Thông tư liên bộ số 06/LBKH-TC ngày 29 tháng 4 năm 1997 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định số 531/TTg của Thủ tướng Chính phủ;
Chương trình Quốc gia;
Chương trình Quốc gia về Thể thao;
Chương trình Quốc gi về thể thao như sau:
Phần I
Chương trình Quốc gia về thể thao, nhằm đào tạo và cung cấp lực lượng vận động viên tài năng có trình độ cao để thi đấu trong nước, khu vực và Quốc tế, đặc biệt là SEA GAMES lần thứ 22.
Chương trình Quốc gia về thể thao.
Chương trình Quốc gia về thể thao được cân đối trong ngân sách của ngành Thể dục Thể thao hàng năm ở Trung ương, ngoài ra còn huy động thêm các nguồn khác của các tổ chức kinh tế, xã hội, các cá nhân trong và ngoài nước để hỗ trợ việc thực hiện mục tiêu của
Chương trình.
Chương trình Quốc gia về thể thao được quản lý theo Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn quản lý tài chính hiện hành nhằm sử dụng đúng mục đích và hiệu quả.
Phần II
Chương trình huấn luyện
Chương trình ở Trung ương:
Chương trình được dự toán theo từng năm gồm:
Chương trình
Chương trình Quốc gia về thể thao, Uỷ ban Thể dục Thể thao hướng dẫn các Bộ, ngành, ở Trung ương và địa phương xây dựng kế hoạch cụ thể, làm căn cứ trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Chương trình Quốc gia về thể thao trong dự toán ngân sách hàng năm.
Chương trình Quốc gia về thể thao được tổng hợp chung vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách của Bộ, ngành ở Trung ương và địa phương.
Chương trình phê duyệt và tổng hợp chung vào kế hoạch của
Chương trình Quốc gia về thể thao, gửi Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo biểu mẫu và thời gian quy định hiện hành.
Chương trình Quốc gia về thể thao và Bộ Kế hoạch và Đầu tư phân bổ ngân sách cho các Bộ, ngành Trung ương và địa phương.
Chương trình vào loại 16 khoản 20 với các chương tương ứng theo phương thức:
Chương trình Quốc gia về thể thao thực hiện chế độ kế toán theo Quyết định số 999/TC/QĐ-CĐKT ngày 2/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành hệ thống chế độ kế toán hành chính sự nghiệp.
Chương trình Quốc gia về thể thao phải lập và tổng hợp báo cáo quyết toán chung của bộ, ngành gửi Bộ Tài chính 01 bản và cho Uỷ ban thể dục thể thao (Ban chủ nhiệm
Chương trình quốc gia về thể thao) 01 bản để tổng hợp theo chương trình báo cáo Bộ Tài chính.
Chương trình quốc gia về thể thao, gửi Sở Tài chính - Vật giá kiểm tra, xét duyệt, đồng gửi về Uỷ ban Thể dục Thể thao 01 bản.
Chương trình Quốc gia về thể thao cho Sở Thể dục Thể thao và gửi báo cáo quyết toán đã thẩm định về Bộ Tài chính và Uỷ ban Thể dục Thể thao, đồng gửi Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố.
Chương trình quốc gia về thể thao của Sở Tài chính - Vật giá và Sở Thể dục Thể thao. Trên cơ sở biên bản thẩm định của liên Bộ, Sở Tài chính - Vật giá thông báo duyệt quyết toán cho Sở Thể dục Thể thao; Bộ Tài chính tổng hợp quyết toán kinh phí uỷ quyền
Chương trình Quốc gia về thể thao để tổng hợp quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm.
Chương trình Quốc gia về thể thao phối hợp với cơ quan tài chính tiến hành kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất việc sử dụng kinh phí ở Trung ương cũng như địa phương đúng mục đích, đúng đối tượng quy định của Nhà nước. Trường hợp phát hiện việc sử dụng kinh phí sai mục đích và các chế độ quy định, đoàn kiểm tra báo cáo các cấp có thẩm quyền tạm ngừng hoặc đình chỉ cấp phát kinh phí.
Phần III