QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND TỈNH NGHỆ AN Về việc ban hành Quy định về phân công, phân cấp và quản lý điều hành ngân sách năm 2004. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN -
Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND các cấp (sửa đổi) ngày 21/6/1994;
Căn cứ Luật Ngân sách Nhà nước (sửa đổi) số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002; Nghị định 60/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ; Quyết định số 242/2003/QĐ-TTg ngày 17/11/2003 của Thủ tướng Chính phủ về giao dự toán Ngân sách Nhà nước năm 2004; và các chế độ chính sách quản lý tài chính ngân sách khác của Nhà nước; -
Căn cứ Nghị quyết số 148/2003/HĐND- XIV ngày 10/12/2003 của kỳ họp thứ 11 HĐND tỉnh khóa XIV về dự toán và phân bổ dự toán NSNN năm 2004; -
Xét đề nghị của Giám đốc sở Tài chính. QUYẾT ĐỊNH
Điều 1 . Ban hành kèm theo Quyết định này bản Quy định về phần công, phân cấp và quản lý điều hành ngân sách năm 2004.
Điều 2 . Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2004. Các quy định trước đây trái với Quyết định này đều bãi bỏ.
Điều 3
Các ông: Chánh Văn phòng HĐND & UBND tỉnh, Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các ban ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã, Thủ trưởng các đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
TM/UBND TỈNH NGHỆ AN
CHỦ TỊCH
( Đã ký )
NGUYỄN THẾ TRUNG
QUY ĐỊNH
Về phân công, phân cấp số và quản lý điều hành ngân sách năm 2004
(Ban hành kèm theo Quyết định số 108/2003/QĐ-UB ngày 15 tháng 12 năm 2003 của UBND tỉnh)
Chương I
Điều 1
Phân cấp các khoản thu đối với từng cấp ngân sách.
1. Các khoản thu 100% của các cấp ngân sách:
a) Đối với ngăn sách Trung ương:
Thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu;
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa nhập khẩu;
Thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành;
Phần nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật từ các khoản phí và lệ phí do các cơ quan, đơn vị thuộc Trung ương tổ chức thu, không kể phí xăng, dầu và lệ phí trước bạ.
Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản thu sự nghiệp của các đơn vị do các cơ quan Trung ương trực tiếp quản lý.
Điều 58 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ.
Thu quảng cáo phát thanh truyền hình;
Các khoản phí, lệ phí nộp vào ngân sách cấp tỉnh theo quy định;
Thuế sử dụng đất nông nghiệp (bao gồm cả số tồn đọng) của các doanh nghiệp, nông lâm trưòng, trạm trại, HTX sản xuất nông nghiệp...;
Viện trợ không hoàn lại bàng tiền, bằng hiện vật của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;
Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;
Đóng góp tự nguyện của các tố chức, cá nhân trong và ngoài nước cho ngân sách cấp tỉnh;
Thu sự nghiệp của các đơn vị do cấp tỉnh quản lý;
Thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định tại Khoản 3
Điều 8 của Luật Ngân sách Nhà nước;
Thu từ các khoản tiền phạt, tịch thu theo quy định của pháp luật;
Thu kết dư ngân sách cấp tỉnh;
Các khoản thu khác của ngân sách cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;
Thu bổ sung từ ngân sách Trung ương;
Thu chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách cấp tỉnh năm trước chuyển sang.
c) Đối với Ngân sách huyện, thành phố, thị xã:
Thuế môn bài của CTN - Dịch vụ ngoài quốc doanh (trừ thuế môn bài thu từ cá nhân và hộ kinh doanh);
Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ dịch vụ, hàng hóa sản xuất trong nước của công thương nghiệp - dịch vụ ngoài quốc doanh;
Các khoản phí và lệ phí từ các hoạt động do các cơ quan thuộc cấp huyện quản lý (bao gồm cả các đơn vị y tế, giáo dục - đào tạo thuộc cấp huyện quản lý);
Tiền thu từ các hoạt động sự nghiệp của các đơn vị do cấp huyện quản lý;
Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho cấp huyện theo quy định của pháp luật;
Đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của Chính phủ;
Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước cho ngân sách cấp huyện;
Thu kết dư ngân sách cấp huyện;
Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên;
Thu chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách cấp huyện năm trước chuyển sang;
Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật;
d) Đối với Ngân sách xã, phường, thị trấn:
Thuế môn bài thu từ cá nhân và hộ kinh doanh;
Thu từ kinh doanh vận tải tư nhân, xây dựng nhà ở tư nhân, trông giữ xe (trừ các đơn vị sự nghiệp có thu được giao tự chủ tài chính theo Nghị định 10), cho thuê nhà, đất của hộ gia đình và các dịch vụ tổ chức dạy thêm;
Thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình;
Các khoản phí, lệ phí và các khoản đóng góp cho ngân sách xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật;
Thu từ sử dụng quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác;
Thu từ hoạt động sự nghiệp do xã, phường, thị trấn quản lý;
Các khoản đóng góp tự nguyện cho xã, phường, thị trấn;
Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật;
Thu kết dư của ngân sách xã, phường, thị trấn;
Thu bể sung từ ngân sách cấp trên;
Thu chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách cấp xã năm trước chuyển sang;
Các khoản thụ khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài các khoản thu theo quy định khoản 4 điều 1, chính quyền xã, phường, thị trấn còn được huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng của xã, phường, thị trấn trên nguyên tắc tự nguyện theo phương án được HĐND xã, phường, thị trấn phê duyệt; Việc quản lý các khoản đóng góp này phải công khai, có kiểm tra, kiểm soát và đảm bảo sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật.
2. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách tỉnh, ngân sách huyện, thành phố, thị xã và ngân sách xã, phường, thị trấn:
Thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà, đất, lệ phí trước bạ nhà, đất, thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh:
+ Ngân sách tỉnh: 0%
+ Ngân sách huyện, thành phố, thị xã: 30%
+ Ngân sách xã, phường, thị trấn: 70%
Thuế giá trị gia tăng (trừ thu từ kinh doanh vận tải và xây dựng nhà ở tư nhân), thuế thu nhập doanh nghiệp và thu khác của công thương nghiệp - dịch vụ ngoài quốc doanh:
+ Thành phố Vinh: Ngân sách thành phố: 95%, ngân sách xã, phường 5%.
+ Thị xã Cửa Lò, Quỳnh Lưu, Quỳ Hợp: Ngân sách thị xã, ngân sách huyện: 90%; ngân sách xã, phường, thị trấn 10%.
+ Các huyện còn lại: Ngân sách huyện 80%; Ngân sách xã, thị trấn 20%.
Giao Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Kho bạc Nhà nước tỉnh hướng dẫn cụ thể tỷ lệ điều tiết các khoản thu cho các cấp ngân sách.
Điều 2
Tiền cấp quyền sử dụng đất.
1. Nhằm khuyến khích các huyện, thành, thị, phường, xã, thị trấn tập trung chỉ đạo thu tiền cấp quyền sử dụng đất trên địa bàn để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trích 10% về ngân sách tỉnh (để chi cho công tác quy hoạch đô thị và công tác địa chính), còn lại được phân phối như sau:
Trích 30% để lại ngân sách xã, phường, thị trấn;
Trích 60% để lại ngân sách huyện, thành phố, thị xã.
2. Những lô đất tỉnh quy hoạch để giao hoặc cho thuê tạo nguồn vốn đầu tư, xây dựng những công trình quan trọng của tỉnh thì điều tiết ngân sách tỉnh 90% - trong đó 10% chi cho công tác quy hoạch đô thị và công tác địa chính; ngân sách xã, phường, thị trấn 10%. Các trường hợp khác thực hiện điều tiết theo quyết định của UBND tỉnh.
Năm 2004, UBND tỉnh sẽ ban hành cơ chế khai thác quỹ đất để tạo vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Quyết định cơ chế khuyên khích sẽ quy định cụ thể tỷ lệ điều tiết thu tiền cấp quyền sử dụng đất giữa các cấp ngân sách theo cơ chê mới.
II - CƠ CHẾ QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH THÚ NGÂN SÁCH
Điều 3 . Quy trình và trách nhiệm giao dự toán thu ngân sách.
Căn cứ vào dự toán thu Ngân sách đã được HĐND tỉnh phê chuẩn, Sở Tài chính chủ trì cùng với Cục Thuế và ngành chủ quản dự kiến phân bổ dự toán thu cho từng đơn vị, trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định giao nhiệm vụ thu ngân sách.
Ngoài ra, theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính về giao dự toán thu, chi Ngân sách Nhà nước năm 2004, các cơ quan hành chính có thu, các đơn vị sự nghiệp có thu phải dành tối thiểu 40% số thu được để lại (riêng ngành y tế dành tối thiểu là 35%) để làm nguồn thực hiện cải cách tiền lương. Giao Sở Tài chính cùng với các đơn vị tính toán và thực hiện khi có văn bản cải cách tiền lương của Nhà nước.
Điều 4 . Quản lý thu ngân sách.
1. Sau khi giao dự toán thu, ngành Thuế chủ trì phối hợp với các ngành chức năng tổ chức triển khai nhiệm vụ ngân sách và chống thất thu thuế. Giám đốc các sở, Thủ trưởng các ban, Ngành cấp tỉnh và Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã có trách nhiệm tổ chức thực hiện tốt Quyết định số 1582/QĐ-UBTM ngày 2/5/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc phê duyệt đề án "Những giải pháp phát triển nguồn thu và chống thất thu ngân sách trên địa bàn Nghệ An" và các chế độ, chính sách khác có liên quan.
2. Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí phải sử dụng biên lai thu do ngành Thuế quản lý. Đối với những khoản thu ngoài thuế phải sử dụng biên lai do Bộ Tài chính quy định tại Quyết định số 141/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/ 2001.
Việc quản lý thu, sử dụng phí và lệ phí thực hiện theo Thông tư số 63/2002/TT-BTC ngày 24/7/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 3/6/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí và các văn bản hướng dẫn khác. Giao Tổ triển khai Pháp lệnh phí, lệ phí phối hợp với các ngành có liên quan rà soát lại danh mục phí, lệ phí trên địa bàn, tham mưu cho HĐND và UBND tỉnh ban hành danh mục phí, lệ phí mối theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước.
3. Đối với các khoản thu sự nghiệp: Thực hiện theo quy định tại Thông tư số 25/2002/TT-BTC ngày 21/3/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/1/2002 của Chính phủ về cơ chế quản lý tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu.
4. Các cơ quan được giao nhiệm vụ thu, đặc biệt là cơ quan Thuế, Cục Hải quan tỉnh phải thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Kho bạc Nhà nước tổ chức quản lý, tập trung nguồn thu vào NSNN, thực hiện công tác kiểm tra, đối chiếu đảm bảo mọi nguồn thu ngân sách phải được tập trung đầy đủ, kịp thời vào quỹ NSNN theo đúng Thông tư số 80/2003/TT-BTC ngày 13/8/2003 của Bộ Tài chính.
Các ngành, các cấp, các doanh nghiệp cần có kế hoạch và biện pháp phấn đấu tăng thu ngân sách và phải thực hiện ngay từ những tháng đầu, quý đầu.
Các doanh nghiệp phải nộp ngân sách kịp thời, theo số phát sinh thực tế, tuyệt đối không được để tồn đọng các khoản phải nộp ngân sách.
Ngành Thuế phải cải tiên công tác thu, đơn giản hóa các thủ tục về thu nộp và tính thuế. Tập trung chỉ đạo việc kê khai, tính thuế, kiểm tra đối với hộ kinh doanh buôn bán vừa và lớn, chống thất thu. Thực hiện ổn định và công khai mức khoán thuế từ 6 tháng đến 1 năm đối với các hộ kinh doanh buôn bán nhỏ để họ yên tâm sản xuất kinh doanh. Mở rộng hình thức tự kê khai, tính thuế, xác định đóng thuế là quyền lợi và nghĩa vụ của người sản xuất kinh doanh.
Tổ chức giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN trên địa bàn, tăng cường kiểm tra và đôn đốc thu nộp thuế theo sát kết quả sản xuất kinh doanh, kiểm tra chặt chẽ công tác kế toán, các hoá đơn bán hàng hay cung cấp lao vụ để loại trừ chi phí bất hợp lý ra khỏi giá thành và phí lưu thông nhằm tăng thu cho ngân sách.
Tăng cường quản lý các Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Doanh nghiệp tư nhân, có biện pháp xử lý nghiêm đối với những đơn vị có đăng ký kinh doanh nhưng không đăng ký kê khai nộp thuế với cơ quan thuế; kiểm tra để truy thu thuế, phạt trốn lậu thuế hoặc dây dưa không nộp thuế, rút giấy phép kinh doanh.
5. Giao Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Cục Thuế xem xét, đề xuất giao ủy nhiệm một số khoản thu cho chính quyền cấp xã.
Điều 5
Khuyến khích tăng thu ngân sách,
1. Các khoản thu đã phân cấp cho ngân sách cấp nào thì phần thu vượt ngân sách cấp đó được hưởng theo tỷ lệ điều tiết cho ngân sách cấp đó.
2. Thực hiện bảo toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp.
Thực hiện Quyết định số 29/2001/QĐ-UB ngày 8/3/2001 của UBND tỉnh "về việc ban hành quy chế" tạm thời về bảo toàn và phát triển vốn tại các DNNN do địa phương quản lý", hàng năm sở Tài chính chủ trì phối hợp với Cục Thuế và Sở chủ quản căn cứ vào các chỉ tiêu đánh giá DNNN tổng hợp trình UBND tỉnh công bố mức độ bảo toàn và phát triển vốn, khả năng trả nợ của từng doanh nghiệp để có chế độ khen thưởng và kỷ luật đối với Giám đốc và Kế toán trưởng các DNNN thuộc tỉnh quản lý.
Điều 6
Các khoản huy động đóng gop của nhân dân.
1. Tất cả các khoản huy động, quyên góp, đóng góp chỉ được thực hiện theo quy định của Nhà nước và phải được cấp có thẩm quyền cho phép, ngoài ra không được huy động dưới bất kỳ hình thức nào. Nếu cấp nào, cơ quan, cá nhân nào quyết định và thực hiện thu không đúng thẩm quyền sẽ bị xử lý theo pháp luật.
2. Các khoản thu đóng góp của nhân dân để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; các khoản đóng góp xây dựng trường của học sinh phải sử dụng biên lai thu tiền do Sỏ Tài chính phát hành theo quy định tại Quyết định 141/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001 của Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ kế toán ngân sách và tài chính xã. Việc tổ chức huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng của các xã, phường, thị trấn thực hiện theo Nghị định số 24/1999/NĐ-CP ngày 16/4/1999 của Chính phủ. Quá trình huy động đóng góp của nhân dân để đầu tư xây dựng công trình cơ sở hạ tầng tại xã, phường, thị trấn phải được công khai tài chính theo Thông tư số 29/1999/TT-BTC ngày 19/3/1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện công khai tài chính đối vớ các quỹ có nguồn thu từ các khoản đóng góp của nhân dân.
3. Đối với các quỹ thực hiện theo các văn bản hướng dẫn hiện hành. Cụ thể:
Quỹ lao động công ích thực hiện theo Quyết định 86/2001/QĐ-BTC ngày 12/9/2001 của Bộ Tài chính;
Quỹ Bảo trợ trẻ em thực hiện theo Quyết định số 1249/1998/QĐ-UB ngày 5/10/1998 của UBND tỉnh Nghệ An và Hướng dẫn liên ngành số 946/HD-LN ngày 20/7/1999 của Ủy ban Bảo vệ & chăm sóc trẻ em tỉnh và Sở Tài chính Vật giá Nghệ An;
Quỹ phòng chống lụt bão: Thực hiện theo quy chế thành lập và hoạt động của quỹ phòng, chống lụt, bão của địa phương được ban hành theo Nghị định số 50/CP ngày 10/5/1997 của Chính phủ;
Quỹ đền ơn đáp nghĩa thực hiện theo Hướng dẫn số 480/1999/HD-TCVG ngày 18/5/1999 của sở Tài chính Vật giá Nghệ An;
Quỹ An ninh - Quốc phòng thực hiện theo Quyết định 1078/QĐ-UB ngày 21/5/1993 của UBND tỉnh Nghệ An.
Quỹ phòng chống ma tuý thực hiện theo Quyết định số 17/2002/QĐ-UB ngày 25/2/ 2002 của UBND tỉnh Nghệ An.
Điều 7
Trách nhiệm của các cấp, các ngành.
Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban, Ngành cấp tỉnh; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã; Chủ tịch các phường, xã, thị trấn; Giám đốc các doanh nghiệp và mọi công dân phải thường xuyên chăm lo việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách là một trong những tiêu chuẩn để bình xét thi đua, khen thưởng.
Chương II
Điều 8
Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp tỉnh.
1. Chi đầu tư phát triển:
Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn do cấp tỉnh quản lý;
Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
Phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình mục tiêu quốc gia do Chính phủ giao cho tỉnh quản lý.
Điều 9
Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện.
1. Chi đầu tư phát triển.
Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội theo phần cấp của tỉnh. Đối với thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò được phân cấp chi đầu tư xây dựng các trường phổ thông quốc lập của các cấp học và các công trình phúc lợi công cộng, điện chiếu sáng, cấp thoát nước, giao thông nội thị, an toàn giao thông, vệ sinh đô thị.
2. Chi thường xuyên:
Các hoạt động sự nghiệp giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, dân số kế hoạch hóa gia đình, xã hội và sự nghiệp khác do cơ quan cấp huyện quản lý;
Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do cơ quan cấp huyện quản lý (bao gồm cả khuyến nông xã);
Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội;
Hoạt động của các cơ quan Nhà nước (bao gồm cả chi cho công tác tôn giáo); cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam , Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam) cấp huyện;
Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp cấp huyện theo quy định của pháp luật;
Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
3. Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
4. Chi chuyển nguồn từ ngân sách huyện năm trước sang năm sau.
Điều 10
Nhiệm vụ chi của Ngân sách xã, phường, thị trấn
1. Chi đầu tư phát triển : Thực hiện theo Thông tư số 106/2003/TT-BTC ngày 7/11/2003 của Bộ Tài chính về hướng dẫn quản lý vốn đầu tư XDCB thuộc xã, phường, thị trấn.
2. Chi thường xuyên:
Chi công tác xã hội và hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao do xã, phường, thị trấn quản lý;
Hoạt động của các cơ quan Nhà nước; cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam) xã, phường, thị trấn;
Hỗ trợ kinh phí bổ túc văn hóa, nhà trẻ, mẫu giáo do xã, thị trấn quản lý;
Hoạt động y tế xã, thị trấn (riêng lương cán bộ xã, bản do ngành y tế trả trực tiếp);
Quản lý duy tu, bảo dưỡng các công trình kiến trúc, tài sản, các công trình phúc lợi, đường giao thông do xã quản lý;
Chi khuyến nông, lâm, ngư;
Chi về công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội;
Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
3. Chi chuyển nguồn từ ngân sách xã, phường, thị trấn năm trước sang năm sau.
II - CƠ CHẾ QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH CHI NGÂN SÁCH
Điều 11
Nguyên tắc ban hành các cơ chế chính sách của địa phương (theo thẩm quyền) liên quan đến chi ngân sách.
Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm. Việc ban hành và thực hiện các cơ chế chính sách của địa phương liên quan đến thu chi ngân sách phải dựa trên cơ sở chính sách, chế độ chung của Nhà nước, phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách trên nguyên tắc cấp nào ban hành thì ngân sách cấp đó phải đảm bảo nguồn chi.
Cơ chế chính sách liên quan đến ngành nào thì giao ngành đó phối hợp với Sở Tài chính thẩm định về mức độ đảm bảo nguồn chi, tham mưu trình HĐND & UBND tỉnh ban hành. Đối với các cơ chế chính sách do huyện ban hành giao phòng Tài chính - Kế hoạch huyện chủ trì phối hợp với các phòng ban chức năng thẩm định, tham mưu.
Điều 12
Chi xây dựng cơ bản.
1. Nguồn vốn chi xây dựng cơ bản:
a) Nguồn vốn chi xây dựng cơ bản của ngân sách tỉnh:
Vốn đầu tư phát triển tập trung do Nhà nước phân bổ từ ngân sách Trung ương (cả vốn trong nước và vốn ngoài nước);
Thuế XNK, thuế TTĐB hàng nhập khẩu năm 2003 được để lại theo Quyết định 197/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;
Số thu từ khai thác Quỹ đất đối với các lô đất tỉnh quy hoạch để giao hoặc cho thuê tạo nguồn vốn đầu tư xây dựng những công trình quan trọng của tỉnh;
Vốn đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia và đầu tư các dự án lớn;
Huy động của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của Chính phủ;
Viện trợ không hoàn lại, đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho ngân sách cấp tỉnh để đầu tư xây dựng cơ bản;
Các khoản vay để đầu tư theo quy định tại khoản 3, điều 8 của Luật Ngân sách Nhà nước;
Các nguồn vốn khác (nếu có) theo chế độ quy định.
b) Nguồn vốn chi xây dựng cơ bản của ngân sách cấp huyện:
60% tiền thu cấp quyền sử dụng đất (trừ những lô đất tỉnh quy hoạch tạo nguồn vốn đầu tư, xây dựng những công trình quan trọng của tỉnh);
30% tiền thu từ hoạt động xổ số kiến thiết do cấp huyện thực hiện được để lại đầu tư các công trình phúc lợi;
Hỗ trợ đầu tư XDCB từ ngân sách cấp trên;
Viện trợ không hoàn lại, đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho ngân sách cấp huyện để đầu tư xây dựng cơ bản;
Các nguồn vốn khác (nếu có) theo chế độ quy định.
c) Nguồn vốn chỉ xây dựng cơ bản của ngân sách cấp xã:
30%tiền thu cấp quyền sử dụng đất (trừ những lô đất tỉnh quy hoạch tạo nguồn vốn đầu tư, xây dựng những công trình quan trọng của tỉnh);
70% tiền thu từ hoạt động xổ số kiến thiết do cấp xã thực hiện (phát sinh trên địa bàn xã, phường, thị trấn) được để lại đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của xã;
Hỗ trợ đầu tư XDCB từ ngân sách cấp trên;
Thu từ kinh doanh vận tải và xây dựng nhà ở tư nhân;
Thuế sử dụng đất nông nghiệp (nếu có);
Viện trợ không hoàn lại, đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho ngân sách cấp xã để đầu tư xây dựng cơ bản;
Các nguồn vốn khác (nếu có) theo chế độ quy định.
Vốn đầu tư XDCB của cấp huyện và cấp xã, phần được để lại theo phân cấp quản lý của UBND tỉnh phải ưu tiên bố trí thực hiện chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp, kiên cố hoá kênh mương thuỷ lợi (kể cả phần để trả nợ tiền vay và kiên cố hoá kênh mương), làm giao thông nông thôn và ưu tiên trả nợ khối lượng XDCB trong kế hoạch đã hoàn thành của huyện và xã.
2. Quản lý và quyết toán vốn đầu tư XDCB:
Tất cả các dự án đầu tư đều phải thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định tại Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999, Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 và Nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngay 30/1/2003 của Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý đầu tư và xây dựng; Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999, Nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 và Nghị định số 66/2003/NĐ- CP ngày 12/6/2003 của Chính phủ ban hành quy chế đấu thầu và các văn bản quy định thực hiện quản lý đầu tư và xây dựng trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Việc cấp phát thanh toán vốn đầu tư XDCB thực hiện theo Thông tư số 44/2003/TT-BTC ngày 15/05/2003 của Bộ Tài chính.
Tất cả các dự án đầu tư của các cơ quan Nhà nước và các DNNN sau khi hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quyết toán vốn đầu tư. Việc quyết toán vốn đầu tư phải đảm bảo nội dung, thời gian lập, thẩm tra và phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 45/2003/TT-BTC ngày 15/05/2003 của Bộ Tài chính.
Các chủ đầu tư (Ban quản lý dự án) chậm nhất sau thời gian 3 tháng kể từ khi công trình hoàn thành nếu không lập báo cáo quyết toán gửi cơ quan có thẩm quyền thẩm tra phê duyệt quyết toán thì Trưởng ban, kế toán trưởng Ban quản lý dự án s'ẽ bị tạm thòi đình chỉ mọi công tác để tập trung vào quyết toán công trình và chỉ được bố trí lại công việc sau khi công trình đã được cấp có thẩm quyền thẩm tra phê duyệt quyết toán, sở Tài chính, Phòng Tài chính-Kế hoạch các huyện, thành phố, thị xã là cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán phải thực hiện nghiêm túc thời gian quy định tại Thông tư số 45/2003/TT- BTC. Đối với những công trình, dự án thời gian thẩm tra phê duyệt vượt so với quy định do lỗi của Chủ đầu tư mà không có lý do chính đáng, tỉnh sẽ không bố trí vốn trả nợ (nếu thiếu) và không ghi kế hoạch tiếp cho các hạng mục tiếp theo (nếu dự án đó còn có hạng mục công trình chưa ghi kế hoạch). Đồng thời trừ điểm thi đua khen thưởng đối với tập thể, cá nhân các ban quản lý dự án, các Chủ đầu tư, UBND các huyện, thành phố, thị xã, các Sở, Ban, Ngành có nhiều dự án tồn đọng và chậm quyết toán.
Các đơn vị thi công phải phối hợp với các chủ đầu tư trong việc quyết toán các dự án theo đúng thời hạn quy định. Những công trình đã đưa vào sử dụng sau 3 tháng trở lên nếu các nhà thầu không chịu làm thủ tục quyết toán với Chủ đầu tư thì UBND tỉnh sẽ không cho đơn vị tham gia đấu thầu những công trình tiếp theo.
3. Các dự án đầu tư từ nguồn vốn nước ngoài trong kế hoạch năm 2004 sẽ được bố trí vốn đối ứng ngay từ đầu năm. Nghiêm cấm mọi trường hợp triển khai thực hiện các dự án đối ngoại khi chưa có bố trí cân đối được nguồn vốn đối ứng cho công trình.
4. Tăng cường phân cấp quản lý đầu tư XDCB cho cấp huyện, cấp xã theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản của Chính phủ. Các cấp, các ngành phải thực hiện tốt các quyết định của UBND tỉnh về phân cấp, ủy quyền trong quản lý đầu tư và xây dựng, theo Quyết định số 115/2001/QĐ- UB ngày 29/11/2001 "về việc ban hành một số quy định về quản lý đầu tư và xây dựng các công trình thuộc chương trình 135".
Việc quản lý, kiểm soát, thanh toán vốn đầu tư thuộc ngân sách cấp huyện thực hiện theo Thông tư số 44/2003/TT-BTC ngày 15/ 05/2003 của Bộ Tài chính; thuộc ngân sách xã thực hiện theo Thông tư số 60/2003 ngày 23/6/2003 và Thông tư số 106/2003/TT-BTC ngày 7/11/2003 của Bộ Tài chính.
5. Sở Tài chính, Phòng Tài chính-Kế hoạch các huyện, thành phố, thị xã hàng quý tập hợp báo cáo thuế giá trị gia tăng được quyết toán trong giá trị công trình (hạng mục công trình) gửi cơ quan Thuế để phối hợp kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các nhà thầu xây lắp, thầu cung ứng thiết bị và các tổ chức tư vấn.
6. Hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp:
Năm 2004 tiếp tục thực hiện cơ chế hỗ trợ vốn lưu động cho DNNN. Giao Sở Tài chính căn cứ vào kinh phí được bố trí trong dự toán ngân sách và nhu cầu bổ sung vốn lưu động của các đơn vị, lập phương án trình UBND tỉnh xem xét và quyết định.
Khoản chi hỗ trợ lãi suất sau đầu tư do Chi nhánh Quỹ hỗ trợ phát triển chi trả theo kế hoạch đã được phê duyệt và chế độ quy định.
Điều 13
Chi sự nghiệp giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa thông tin, thể dục thể thao.
Từ năm 2004 thực hiện phân cấp chi sự nghiệp giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế cho ngân sách cấp huyện. Các huyện, thành phố, thị xã không được bố trí các khoản chi này thấp hơn số tỉnh thông báo. Khi giao dự toán ngân sách cho các huyện, thành phố, thị xã phải ghi rõ chi sự nghiệp giáo dục - đào tạo, dạy nghề, chi sự nghiệp y tế;
Căn cứ vào thông báo chi ngân sách của Giám đốc Sở Tài chính, Thủ trưởng các đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngần sách cho các đơn vị dự toán ngân sách trực thuộc (sau khi thống nhất với cơ quan tài chính) theo nguyên tắc:
+ Tổng số giao cho các đơn vị trực thuộc không vượt quá dự toán được cấp thẩm quyền giao cả về tổng mức và chi tiết theo từng lĩnh vực.
+ Dự toán giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách được phân bổ chi tiết theo các nhóm mục chủ yếu của
Mục lục Ngân sách Nhà nước.
Phần chênh lệch về định mức giường bệnh của các huyện núi thấp và các huyện còn lại được cân đối từ nguồn thu viện phí và BHYT.
Mục lục ngân sách do Nhà nước quy định và thông báo công khai để các đơn vị biết. Sở Tài chính phối hợp với Sở Văn hóa thông tin, Sở Thể dục thể thao kiểm tra giám sát chặt chẽ các khoản thu chi tại các đơn vị, thực hiện tốt công tác thẩm tra xét duyệt quyết toán hàng năm theo chế độ quy định.
Điều 14
Chi sự nghiệp kinh tế
1. Đối với cấp huyện:
Các khoản chi sự nghiệp kinh tế, kiến thiết thị chính thuộc các huyện, thành phố, thị xã quản lý là nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện và được bố trí trong dự toán ngân sách huyện. Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện có trách nhiệm phân bổ chi tiết dự toán chi theo từng nội dung và
Mục lục Ngân sách Nhà nước báo cáo UBND cấp huyện xem xét để trình HĐND cấp huyện quyết định.
Mục lục ngân sách Nhà nước (kể cả vốn hỗ trợ giao thông nông thôn miền núi). Riêng sửa chữa lớn, sửa chữa vừa thì phải thực hiện đúng chế độ quản lý cấp phát vốn sự nghiệp kinh tế có tính chất XDCB.
Điều 15
Chi các chương trình mục tiêu
Căn cứ vào chỉ tiêu vốn chương trình mục tiêu của Trung ương giao, Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Sở, ban, ngành có liên quan phân bổ chi tiết vốn đầu tư XDCB chi tiết tới các đơn vị trình UBND tỉnh quyết định, Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các Sở, ban, ngành có liên quan phân bổ chi tiết vốn sự nghiệp tới các đơn vị trình UBND tỉnh quyết định. Việc phân bổ vốn thực hiện trên nguyên tắc: Dựa vào chỉ tiêu của Trung ương tiến hành phân bổ cụ thể cho các đơn vị trình UBND tỉnh quyết định. Đối với nguồn kinh phí có tính chất XDCB, sau khi có quyết định của UBND tỉnh, Sở Tài chính làm thủ tục chuyển vốn sang Kho bạc Nhà nước tỉnh để quản lý, thanh toán theo quy định tại Thông tư số 44/2003/TT- BTC ngày 15/5/2003' của Bộ Tài chính. Đối với các nguồn kinh phí bố trí chi thường xuyên và chi các chương trình (chống ma túy, mại dâm, KHHGĐ, tiêm chủng, xóa mù...), Sở Tài chính thông báo các đơn vị được thụ hưởng và tiến hành chuyển vốn qua Kho bạc Nhà nước sau khi có dự toán được phê duyệt, đồng thời quản lý theo chế độ hiện hành.
Điều 16
Chi an ninh quốc phòng
Cấp tỉnh: căn cứ dự toán ngân sách đã được HĐND tỉnh thông qua và Chủ tịch UBND tỉnh ra quyết định, ủy quyền Giám đốc Sở Tài chính thông báo dự toán chi tới các đơn vị dự toán cấp I. Trên cơ sở nhiệm vụ chi thường xuyên theo quy định của Liên bộ Tài chính - Quốc phòng và các quy định hiện hành khác để phân bổ kinh phí chi của các đơn vị (Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Bộ đội biên phòng tỉnh, Công an tỉnh).
Cấp huyện: Kinh phí an ninh quốc phòng được cân đối trong dự toán ngân sách cấp huyện và do huyện trực tiếp chi trả cho những nội dung chi thường xuyên theo chế độ quy định.
Kinh phí hoạt động của tiểu đội dân quân thường trực xã Nậm Cắn huyện Kỳ Sơn (thực hiện theo Quyết định số 620/QĐ-UB.NC ngày 8/3/2001 của UBND tỉnh Nghệ An), ngân sách tỉnh cân đối và cấp cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh để chi trả.
Điều 17
Chi quản lý hành chính:
1. Chi quản lý hành chính của cấp nào được tổng hợp vào dự toán ngân sách cấp đó. Trên cơ sở dự toán ngân sách được HĐND tỉnh thông qua, Chủ tịch UBND tỉnh ra quyết định và Sở Tài chính thông báo dự toán chi tới các ngành, các huyện phải thực hiện theo đúng dự toán được duyệt, không được dùng các nguồn kinh phí khác để chi quản lý hành chính. Kho bạc Nhà nước phải kiểm soát chặt chẽ các khoản chi tiêu hành chính.
2. Theo Luật Ngân sách Nhà nước, cơ quan Đảng cấp nào thì dự toán chi ngân sách Đảng được cân đối vào dự toán chi ngân sách cấp đó. Cơ quan Tài chính các cấp thực hiện việc cấp phát kinh phí cho cơ quan Đảng các cấp theo quy định của Liên bộ Tài chính - Ban Tài chính quản trị Trung ương.
3. Kinh phí hoạt động của HĐND: Thường trực HĐND tỉnh căn cứ vào tiêu chuẩn định mức Nhà nước quy định và khả năng ngân sách của tỉnh để quyết định dự toán kinh phí HĐND toàn tỉnh, có phân ra cho từng cấp huyện, xã và chi tiết theo các nội dung chi.
Trên cơ sở đó, kinh phí của HĐND cấp nào thì được tập hợp chung vào dự toán kinh phí của Văn phòng HĐND & UBND cấp đó để cân đối vào nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách. Chủ tịch HĐND các cấp chịu trách nhiệm điều hành nguồn kinh phí hoạt động của HĐND cấp mình theo đúng dự toán dược duyệt. Văn phòng HĐND & UBND các cấp có trách nhiệm đảm bảo kinh phí hoạt động của HĐND theo kế hoạch HĐND trong phạm vi dự toán được giao và tiến độ cấp phát của cơ quan tài chính.
4. Thực hiện khoán chi hành chính:
Năm 2004, UBND tỉnh tiếp tục mở rộng khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với một số Sở, huyện và kinh phí hoạt động cho cán bộ cơ sở một số xã. Nội dung khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính chi theo quy định tại Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg ngày 17/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư liên tịch số 17/2002/TTLT BTC-BTCCBCP của Liên Bộ Tài chính - Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ).
Trên cơ sở dự toán được giao đầu năm, các đơn vị thực hiện khoán chi quản lý hành chính tổ chức quản lý chi tiêu theo chế độ, theo mục chi đã phân bổ nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
5. Giao quyền tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu:
Các Sở chủ quản chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính và các ngành có liên quan tham mưu UBND tỉnh tiếp tục triển khai giao quyền tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu còn lại theo quy định tại Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/1/2002 của Chính phủ về cơ chế quản lý tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu, Thông tư hướng dẫn số 25/2002/TT-BTC ngày 21/3/ 2002 và Thông tư 50/2003/TT-BTC ngày 22/5/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn các đơn vị có thu xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ.
Điều 18
Chi ngân sách xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã)
Thực hiện Luật Ngân sách Nhà nước, xã là một cấp ngân sách hoàn chỉnh trong cơ cấu ngân sách Nhà nước. Các khoản phát sinh về thu chi ngân sách xã được tổng hợp, phản ánh vào tài khoản thu chi ngân sách xã mở tại Kho bạc Nhà nước theo Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/06/2003 và Quyết định số 141/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001 của Bộ Tài chính;
Việc lập, chấp hành, kế toán và quyết toán ngân sách xã thực hiện theo Thông tư số 60/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn. Ban Tài chính xã xây dựng dự toán chi tiết ngân sách xã theo
Mục lục ngân sách Nhà nước trình Chủ tịch UBND xã để trình HĐND xã quyết định;
Điều 9
Chấp hành ngân sách Nhà nước
Sau khi được UBND tỉnh giao dự toán ngân sách, các cơ quan Nhà nước ở địa phương, các đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc. Phương án phân bổ dự toán ngân sách của các cơ quan Nhà nước và đơn vị dự toán cấp I cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc phải gửi cho cơ quan tài chính cùng cấp để thẩm tra.
Trên cơ sở nhiệm vụ thu cả năm được giao và nguồn thu dự kiến phát sinh trong quý, cơ quan thu lập dự toán thu ngân sách quý gửi cơ quan tài chính cùng cấp trước ngày 20 tháng cuối quý trước.
Trên cơ sở dự toán chi cả năm được giao và yêu cầu, nhiệm vụ chi trong quý, các đơn vị sử dụng ngân sách lập nhu cầu chi ngân sách quý (có chia ra tháng) gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch và cơ quan quản lý cấp trên trước ngày 20 của tháng cuối quý trước, cơ quan quản lý cấp trên tổng hợp nhu cầu chi ngân sách quý (có chia ra tháng) gửi cơ quan tài chính cùng cấp trước ngày 25 tháng cuối quý trước. sở Tài chính và Phòng Tài chính-Kế hoạch các huyện căn cứ vào khả năng nguồn thu và nhu cầu chi trong quý, lập phương án điều hành ngân sách quý của cấp mình bảo đảm nguồn để chi trong dự toán, đúng chế độ.
Căn cứ vào dự toán chi ngân sách Nhà nước năm được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi của đơn vị theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước thực hiện chi trả, thanh toán các khoản chi Ngân sách Nhà nước theo nguyên tắc, chế độ hiện hành.
Điều 20
Điều hành ngân sách dự phòng.
Dự toán chi ngân sách các cấp chính quyền địa phương được bố trí khoản dự phòng 2% - 5% tổng số chi của ngân sách mỗi cấp (không tính các khoản ghi thu - ghi chi) và được cơ quan tài chính trình UBND cùng cấp quyết định sử dụng.
Dự phòng ngân sách được sử dụng các nhiệm vụ sau:
+ Thực hiện các giải pháp khẩn cấp nhằm phòng chống thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn;
+ Khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn đối với thiệt hại tài sản Nhà nước; hỗ trợ khắc phục hậu quả đối với thiệt hại của các tổ chức và dân cư;
+ Thực hiện các nhiệm vụ quan trọng về An ninh-quốc phòng và các nhiệm vụ cần thiết cấp bách khác phát sinh ngoài dự toán đã giao đầu năm cho các đơn vị trực thuộc. Các cấp chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) chủ động sử dụng dự phòng ngân sách cấp mình để đáp ứng các nhu cầu chi phát sinh trên địa bàn, kể cả mua sắm, sửa chữa phương tiện, tài sản (xe ô tô, máy phôtôcopy, máy vi tính, bàn ghế,...).
Sở Tài chính theo định kỳ tổng hợp các nhu cầu chi đột xuất trình UBND tỉnh hoặc Hội đồng tài chính xem xét giải quyết.
Giám đốc Sở Tài chính được uỷ quyền giải quyết kinh phí dự phòng ngân sách tỉnh cho những nội dung chi cần thiết từ 10 triệu đồng trở xuống và một năm không giải quyết quá một lần cho một đơn vị.
Cơ quan Tài chính các cấp hàng quý tổng hợp đầy đủ tình hình sử dụng nguồn dự phòng ngân sách cấp mình để báo cáo cấp trên theo đúng Luật Ngân sách Nhà nước.
III. V ề tiết kiệm chống lãng phí
Điều 21.
Thực hành tiết kiệm, chông lãng phí trong chi tiêu ngân sách kể cả chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển, quản lý chặt chẽ các nguồn vốn và tài sản Nhà nước trong các doanh nghiệp, tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp. Các ngành, các cấp, các đơn vị phải thực hiện nghiêm túc Pháp lệnh thực hành tiết kiệm chống lãng phí và Quyết định số 90/2001/QĐ-UB ngày 4/10/ 2001 của UBND tỉnh quy định về tiết kiệm chống lãng phí.
1. Quản lý chặt chẽ việc xây dựng mới và cải tạo, nâng cấp, mở rộng các trụ sở làm việc của các cơ quan, xí nghiệp và mua sắm xe ô tô con (Trường hợp đặc biệt phải được sự đồng ý của Chủ tịch UBND tỉnh bằng văn bản). Các ngành chức năng (Thuế, Công an) không được làm các thủ tục cho đăng ký xe ô tô con cho các đơn vị nếu không có văn bản đồng ý của Chủ tịch UBND tỉnh, không có thông báo giá và thông báo nguồn kinh phí mua sắm của Sở Tài chính. Trên cơ sở kết quả kiểm kê tài sản, đất đai khu vực HCSN và chế độ trang bị tài sản, thực hiện điều hòa tài sản từ nơi thừa sang nơi thiếu để sử dụng có hiệu quả: Nghiêm cấm các đơn vị dùng kinh phí ngân sách để đi chúc Tết, làm quà, biếu xén... Nếu đơn vị nào cố tình vi phạm, khi bị phát hiện thì thủ trưởng đơn vị và kế toán trưởng phải bồi hoàn và tùy theo mức độ để xử lý kỷ luật theo quy định.
2. Thực hiện Chỉ thị 21/2001/CT-TTg ngày 11/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 100/2001/TT-BTC ngày 7/12/2001 của Bộ Tài chính tất cả các cơ quan, đơn vị khi sử dụng kinh phí thuộc ngân sách Nhà nước để mua sắm tài sản, vật tư, trang thiết bị để xây dựng trụ sở cơ quan và phục vụ cho công tác quản lý hành chính thì phải mua từ các nguồn hàng được sản xuất trong nước và chỉ mua mặt hàng nhập ngoại khi mặt hàng đó trong nước không sản xuất được (trường hợp ngoại lệ báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, quyết định); khi mua sắm các loại tài sản từ nguồn ngân sách thì phải đảm bảo đầy đủ thủ tục theo chế độ quy định như: dự toán được duyệt, hóa đơn do Bộ Tài chính phát hành, phiếu chi do Thủ trưởng cơ quan phê duyệt. Ngoài ra nếu mua sắm các loại tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng (tính theo giá trị đơn chiếc, tài sản có tính đồng bộ mới hoạt động được thì tính theo bộ hoặc tổng giá trị tài sản cho thông báo 1 lần mua sắm trên 30 triệu đồng) ngoài các thủ tục nói trên, phải có: thông báo giá của cơ quan Tài chính và hợp đồng giữa hai cơ quan mua bán tài sản thì Kho bạc Nhà nước mới được chi trả và đơn vị mới được quyết toán. Riêng mua sắm các loại tài sản có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên phải được sự đồng ý của UBND tỉnh, ngoài các thủ tục quy định còn phải thực hiện đấu thầu theo quy định tại Thông tư 121/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ Tài chính hoặc thực hiện chỉ định thầu nếu được UBND tình cho phép. Nếu thực hiện đấu thầu thì hồ sơ thủ tục phải đảm bảo theo Quy chế đấu thầu hiện hành.
3. Nghiêm cấm các đơn vị cấp trên huy động kinh phí của cấp dưới hoặc gửi nhiệm vụ chi xuống cấp dưới không đúng thẩm quyền. Các đơn vị cấp dưới không được chi các khoản do cấp trên yêu cầu sai chế độ.
IV - THỰC HIỆN CÔNG KHAI TÀI CHÍNH
Điều 22
Thực hiện công khai tài chính
Các cấp ngân sách, các đơn vị dự toán và các DNNN phải thực hiện công khai tài chính. Nội dung, hình thức và thời hạn công khai tài chính theo quy định tại Quyết định số 225/1998/QĐ-TTg ngày 20/11/1998, Quyết định số 182/2001/QĐ-TTg ngày 20/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư số 01/ 2002/TT-BTC ngày 8/1/2002 của Bộ Tài chính; Quyết định số 46/1999/QĐ-UB ngày 14/5/ 1999 của UBND tỉnh, các văn bản khác của các cấp, các cơ quan có thẩm quyền về việc thực hiện công khai tài chính và quy chế dân chủ. Trong đó, cần lưu ý các nội dung:
1. Công khai tài chính đối với ngân sách Nhà nước các cấp:
Tổng dự toán ngân sách, quyết toán thu, chi ngân sách địa phương hàng năm đã được HĐND cùng cấp phê chuẩn. Tổng dự toán, quyết toán chi ngân sách Nhà nước hàng năm của các cơ quan, đơn vị được UBND cấp mình giao, xét duyệt. Trong đó, chi tiết nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước đã được giao trên địa bàn theo thành phần kinh tế, một số lĩnh vực thu và một số sắc thuế; công bố chi tiết chi của một số lĩnh vực;
Tổng dự toán, quyết toán thu, chi ngân sách, số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới, tổng các nguồn kinh phí ủy quyền (nếu có) của chính quyền cấp dưới đã được giao, phê chuẩn (hoặc cơ quan tài chính thẩm định). Các định mức tiêu chuẩn, các nguyên tắc và phương thức phân bố kinh phí ngân sách. Nghiêm cấm mọi trường hợp giữ nguồn lại để cấp phát ngoài kế hoạch (trừ nguồn dự phòng).
Riêng đối với ngân sách xã, phường, thị trấn ngoài việc công khai dự toán, báo cáo quyết toán chi tiết đến từng sắc thuế, lĩnh vực chi của ngân sách xã, còn phải công bố công khai chi tiết một số hoạt động tài chính khác của xã như quỹ hoạt động sự nghiệp, các khoản huy động, đóng góp của nhân dân.
2. Công khai tài chính đối với các doanh nghiệp Nhà nước:
Tình hình vốn, tài sản và tài chính; kết quả hoạt động kinh doanh; Việc trích, lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp; Các khoản được ngân sách Nhà nước cấp (nếu có); Các khoản thu nhập và thu nhập bình quân của người lao động;
Kết quả thẩm định báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo quy định hiện hành; Định mức chi và các khoản chi: quản lý doanh nghiệp, tiếp khách, hội họp, giao dịch, các khoản chi phạt doanh nghiệp phải nộp; chi đầu tư phát triển; chi đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho người lao động.
3. Công khai tài chính đối với các đơn vị dự toán ngân sách:
Dự toán, quyết toán ngân sách hàng năm của đơn vị và các đơn vị dự toán cấp dưới đã được giao, xét duyệt, chi tiết đến từng mục thu, chi theo
Mục lục Ngân sách Nhà nước. Số liệu này bao gồm cả phần dự toán điều chỉnh hoặc bổ sung trong năm (nếu có);
Điều 23.
1, Về nguyên tắc mọi khoản chi NSNN đều phải được kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ ở các khâu trước, trong và sau khi cấp phát. Tùy theo từng nội dung, tính chất của từng khoản chi để có biện pháp, phương pháp cấp phát, kiểm tra, kiểm soát phù hợp, đảm bảo cho mọi khoản chi thực hiện đúng chế độ, mục đích và tiết kiệm.
Các nhiệm vụ chi ngoài kế hoạch đã được giao đầu năm KBNN chỉ được cấp phát khi có thông báo nguồn chi của cơ quan tài chính.
2. Thực hiện tốt Thông tư 79/2003/TT- BTC ngày 13/8/2003 của Bộ Tài chính về quản lý cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước. Cơ quan KBNN chỉ được cấp phát các khoản chi theo dự toán, đúng mục lục NSNN và có đủ nguồn. Đối với các khoản chi phát sinh ngoài dự toán phải có quyết định của Chủ tịch UBND các cấp. Cơ quan tài chính các cấp có quyền thẩm định trước khi cấp phát, nếu có vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện có quyền kiến nghị để Chủ tịch UBND các cấp xem xét và giải quyết. Đơn vị thụ hưởng khoản kinh phí đột xuất phải có dự toán chi tiết các nội dung chi theo từng mục chi để cơ quan tài chính duyệt trước khi cấp phát qua Kho bạc Nhà nước. Kho bạc Nhà nước phải tổ chức kiểm soát các khoản chi ngân sách theo đúng chính sách, chế độ, đúng dự toán được duyệt.
3. Giao Kho bạc Nhà nước kiểm tra lại tất cả các tài khoản hiện nay các cấp, các ngành, các đơn vị đang mở, để xoá ngay những tài khoản mở ngoài phạm vi cho phép, đồng thời hướng dẫn các đơn vị mở tài khoản theo đúng chế độ quy định. Nếu Kho bạc Nhà nước cho đơn vị mở tài khoản gây thất thoát cho ngân sách thì Kho bạc Nhà nước phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Chương III
Điều 24.
Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã, Thủ trưởng các đơn vị liên quan chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nội dung của Quy định này.
Trong quá trình thực hiện, có vướng mắc thì phản ánh về sở Tài chính để tổng hợp trình UBND tỉnh xem xét, quyết định.