THÔNG TƯ Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 165/HĐBT ngày 12-5-1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành pháp lệnh hợp đồng lao động.
Căn cứ Nghị định số 165/HĐBT ngày 12-5- 1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp đồng lao động
sau khi thống nhất ý kiến với các Bộ, ngành liên quan, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội hướng dẫn thêm như sau:
PHẦN I
Điều 4 của Nghị định số 165-HĐBT ngày 12- 5- 1992 thì bên gây ra thiệt hại phải bồi thường cho bên kia theo mức độ thiệt hại gây ra. Mức bồi thường do hai bên thoả thuận. Nếu việc thoả thuận không đạt kết quả thì đưa ra toà án xét xử.
PHẦN II
Điều 6 Nghị định, chỉ áp dụng trong các trường hợp sau: người sử dụng lao động cần lao động để giải quyết một công việc nhất định, theo mùa, vụ có thời hạn dưới 1 năm.
3. Danh mục những nghề, công việc nặng nhọc, độc hại nguy hiểm không được sử dụng lao động dưới 18 tuổi (Điều 12 Pháp lệnh Hợp đồng lao động) được thực hiện theo phủ lục B về danh mục nghề, công việc nặng nhọc, nguy hiểm ban hành kèm theo Thông tư số 19-LĐTBXH/TT ngày 31-12-1990 của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội. Những công việc không được sử dụng lao động nữ thực hiện theo Thông tư số 9-TT/LB ngày 29-8-1986 của Liên Bộ Lao động Y tế.
Trường hợp được sử dụng người dưới 15 tuổi thì chỉ được làm những loại công việc nhẹ nhàng, không có hại đến sức khỏe của họ như trình diễn nghệ thuật, đan, thêu, ren, thủ công mỹ nghệ v.v...
Việc bảo hộ lao động cho người chưa thành niên áp dụng theo quy định hiện hành.
4. Việc áp dụng các loại hợp đồng lao động (Điều 7):
a) Hợp đồng lao động với thời hạn không xác định được áp dụng cho những công việc có tính chất lâu dài, thường xuyên mà thời gian kết thúc không xác định được trước.
b) Hợp đồng lao động với thời hạn xác định được áp dụng công việc xác định thời gian kết thúc (1,2,3,4 năm) trở lên.
c) Hợp đồng lao động theo một công việc nhất định, theo mùa, vụ được xác định cho những công việc có thời gian hoàn thành trong một vài ngày hoặc vài tháng đến dưới 1 năm.
5. Việc làm thử (Điều 9):
Khi người lao động làm thử hết thời gian làm thử việc thì người sử dụng lao động thông báo kết quả thử việc đến người lao động. Nếu việc làm thử có hợp đồng riêng (theo mẫu do Bộ Lao động - Thương binh và xã hội ấn hành) mà người lao động không được thông báo thì phải chuyển sang ký kết hợp đồng. Khi hợp đồng lao động đã được ký kết mà có thời gian thử việc thì khi hết thời gian thử việc hợp đồng lao động đó đương nhiên có hiệu lực thi hành, nếu người lao động không nhận được thông báo kết quả thử việc.
6. Việc huỷ bỏ hợp đồng lao động khi người lao động không đến làm việc trong những trường hợp đặc biệt (Điều 10):
a) Người lao động đang gặp thiên tai, hoả hoạn.
b) Người lao động đang bị ốm đau, thai sản, tai nạn đột xuất hoặc bị tạm giữ, hoặc tạm giam.
c) Gia đình có người thân chết như cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con.
Người sử dụng lao động có quyền huỷ bỏ hợp đồng lao động các trường hợp nói trên, nếu trong 10 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động có hiệu lực mà người lao động đến đơn vị không xuất trình giấy xác nhận hợp lệ.
PHẦN III
PHẦN IV
Điều 22 của Nghị định và quy định tại mục 4, phần IV Thông tư này.
2. Hội đồng Trọng tài lao động.
a) Hội đồng Trọng tài lao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành lập theo quy định tại
Điều 21 của Nghị định. Số lượng thành viên gồm đại diện tổ chức công đoàn và đại diện người sử dụng lao động mỗi bên ít nhất là 2 người do Uỷ ban nhân dân chuẩn y theo đề nghị của cơ quan lao động cùng cấp.
b) Hội đồng Trọng tài lao động Trung ương, số lượng thành viên do Chính phủ chuẩn y theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
3. Thẩm quyền và trách nhiệm của Hội đồng Trọng tài lao động.
3.1. Hội đồng Trọng tài Lao động các cấp:
a) Hội đồng Trọng tài quận, huyện xem xét và ra quyết định giải quyết các vụ tranh chấp lao động của các đơn vị sau:
Đơn vị đóng trong địa bàn quận, huyện mà ở đó Hội đồng hoà giải ở cơ sở đã giải quyết, nhưng đương sự còn khiếu nại; khi phát hiện có tình tiết mới hoặc phát hiện việc giải quyết có dấu hiệu vi phạm pháp luật; có kháng nghị của Chủ tịch Hội đồng Trọng tài cấp trên.
b) Hội đồng Trọng tài tỉnh, thành phố thuộc Trung ương xem xét và ra quyết định giải quyết cuối cùng đối với các vụ tranh chấp lao động các đơn vị sau:
Đơn vị đóng trong địa bàn tỉnh hoặc cấp tương đương do Hội đồng hoà giải cơ sở chuyển đến (nơi không có Hội đồng Trọng tài quận, huyện).
Đơn vị chưa có Hội đồng hoà giải ở cơ sở.
Đương sự trực tiếp gửi đơn đến yêu cầu giải quyết trong trường hợp tranh chấp về việc chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật hoặc không thực hiện việc bồi thường.
Những vụ thanh chấp mà cấp dưới đã giải quyết, nhưng đương sự còn khiếu nại, khi phát hiện tình tiết mới hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật lao động.
Thanh tra lao động hoặc Chủ tịch Hội đồng Trọng tài cấp trên kháng nghị.
c) Hội đồng Trọng tài Lao động Trung ương giải quyết phúc thẩm cuối cùng đối với những vụ tranh chấp lao động do Hội đồng Trọng tài cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã giải quyết mà một trong hai bên đương sự còn khiếu nại.
3.2. Quyền và trách nhiệm của Hội đồng Trọng tài lao động:
a) Tiến hành hoà giải các vụ tranh chấp lao động; nếu hoà giải không thành thì giải quyết theo thủ tục quy định tại mục 3-4,
Phần IV Thông tư này.
Điều 18 của Nghị định.
Yêu cầu thay đổi thành viên Hội đồng hoặc thư ký nếu có lý do chính đáng như đã quy định tại điểm c, mục 4-2, phần IV Thông tư này.
Được sử dụng các quyền khác do pháp luật quy định như khiếu nại, gửi đơn trực tiếp để yêu cầu Hội đồng Trọng tài các cấp giải quyết hoặc Toà án xét xử trong trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động hoặc không thực hiện việc bồi thường mà bản thân cho là trái pháp luật.
e) Các đương sự hoặc đại diện được uỷ quyền có nghĩa vụ:
Cung cấp đầy đủ các chứng cứ cần thiết liên quan đến vụ việc đang giải quyết hoặc xử lý theo yêu cầu của Hội đồng hoà giải, Hội đồng Trọng tài, bảo đảm điều kiện cần thiết để Hội đồng làm việc có hiệu quả.
Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định, bảo đảm trật tự, an ninh trong khi tiến hành phiên họp.
Chấp hành đầy đủ kết luận của Hội đồng hoà giải hoặc quyết định của Hội đồng Trọng tài.
Trong khi chờ giải quyết tranh chấp phải thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng lao động (nếu có).
g) Người làm chứng (nếu có):
Những người biết được tình tiết có liên quan đến vụ tranh chấp có thể được mời đến làm chứng.
Người làm chứng phải thông báo trung thực mọi tin tức đã biết có liên quan đến vụ tranh chấp.
Không được mời người bị bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức được các tình tiết của vụ tranh chấp hoặc không có khả năng thông báo các tình tiết đó một cách đúng đắn.
4.3. Thủ tục phiên họp Hội đồng giải quyết tranh chấp lao động:
a) Hội đồng giải quyết vụ tranh chấp thông báo cho các đương sự mà mời nhân chứng (nếu có) trước 5 ngày đến dự họp, kể từ ngày phiên họp bắt đầu.
b) Khi phiên họp bắt đầu, nếu một trong hai đương sự vắng mặt không có lý do, nhưng hồ sơ đã rõ ràng, chứng cứ đầy đủ thì Hội đồng vẫn tiến hành phiên họp. Bên vắng mặt không có lý do chính đáng thì không có quyền yêu cầu triệu tập phiên họp mới, nhưng vẫn có quyền khiếu nại.
Trường hợp một hoặc cả hai đương sự vắng mặt có lý do chính đáng thì phiên họp tạm hoãn; nếu một bên đương sự có đơn xin không tham gia phiên họp thì Hội đồng vẫn tiến hành phiên họp.
c) Chủ tịch Hội đồng có quyền tạm hoãn phiên họp một trong các trường hợp sau:
Trường hợp nói tại điểm b trên.
Số thành viên Hội đồng có mặt ít hơn 2/3 tổng số thành viên Hội đồng hoặc trong số thành viên có mặt bị thay đổi, nhưng chưa có người thay thế.
Người làm chứng vắng mặt.
d) Khi tiến hành phiên họp:
Chủ tịch Hội đồng công bố lý do phiên họp, tiến hành các thủ tục cần thiết và tóm tắt toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, yêu cầu các đương sự công bố những chứng cứ đã thu thập được. Yêu cầu các đương sự, đơn vị, cá nhân tham gia khác phát biểu ý kiến.
đ) Chủ tịch Hội đồng có quyền chỉ định việc giải quyết tranh chấp lao động trong trường hợp đương sự đã rút đơn yêu cầu hoặc đơn khiếu nại.
e) Khi kết thúc phiên họp, trên cơ sở hồ sơ, chứng cứ đã thu thập được và căn cứ vào những quy định của pháp luật lao động, Hội đồng hoà giải phải có biên bản kết luận hoặc quyết định của Hội đồng Trọng tài do Chủ tịch phiên họp ký và được công bố tại phiên họp. Biên bản kết luận hoặc quyết định của Hội đồng giải quyết tranh chấp lao động phải được gửi cho các đương sự trong vòng 3 ngày kể từ ngày ký và được thi hành trong thời hạn 10 ngày theo quy định tại
Điều 24 Nghị định.
Không ai có quyền sửa đổi nội dung của biên bản hoà giải hoặc quyết định của Hội đồng Trọng tài sau khi đã ký. Nếu có sai xót rõ ràng thì Hội đồng chỉnh lý cho đúng và thông báo ngay cho các đương sự biết.
Chủ tịch Hội đồng, thư ký phiên họp và các đương sự phải ký vào biên bản phiên họp. Trường hợp từ chối ký vào biên bản phải nêu rõ lý do trong biên bản phiên họp.
5. Xét khiếu nại:
a) Các đương sự có quyền khiếu nại với cơ quan giải quyết tranh chấp lao động có thẩm quyền quy định tại mục 3 nói trên. Thời hạn khiếu nại là 10 ngày theo quy định tại
Điều 24 Nghị định số 165-HĐBT ngày 12-5-1992.
b) Trong khi xét khiếu nại, đương sự vẫn phải chấp hành biên bản hoặc quyết định của Hội đồng đã giải quyết vụ tranh chấp.
c) Thủ tục tiến hành xét khiếu nại tương tự thủ tục tiến hành phiên họp giải quyết tranh chấp lao động.
6. Giám sát việc thi hành biên bản hoà giải hoặc quyết định của hội đồng trọng tài lao động:
a) Cơ quan ra quyết định hoặc biên bản hoà giải giải quyết tranh chấp lao động có trách nhiệm theo dõi giám sát kiểm tra và áp dụng các biện pháp cần thiết theo thẩm quyền để quyết định hoặc biên bản hoà giải được thi hành nghiêm chỉnh, kịp thời.
b) Hết thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp luật, nếu trong biên bản hoà giải hoặc quyết định của Hội đồng Trọng tài không ghi thời gian thi hành mà biên bản hoà giải đạt kết quả hoặc quyết định của Hội đồng Trọng tài lao động không được thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì cơ quan giải quyết tranh chấp lao động chuyển biên bản hoà giải hoặc quyết định của Hội đồng Trọng tài Lao động sang cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cưỡng chế thi hành.
PHẦN V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 1 của Nghị định và mục 1, phần I Thông tư này.
b) Đối với lao động đã ký kết hợp đồng trước ngày Thông tư này có hiệu lực, nếu nội dung hợp đồng không phù hợp toàn bộ hoặc từng phần với Nghị định số 165-HĐBT ngày 12-5-1992 và Thông tư thì phải huỷ bỏ, ký kết lại hoặc bổ sung hợp đồng lao động, nhưng các điều khoản nào có lợi hơn cho người lao động thì vẫn có hiệu lực.
c) Đối với lao động trong khu vực Nhà nước (công nhân viên chức trong biên chế) được thực hiện như sau:
Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, sau khi tổ chức sắp xếp lại lao động như quy trình sắp xếp lao động theo Quyết định số 176-HĐBT ngày 9-10-1993 đã đăng ký thành lập doanh nghiệp theo Nghị định số 388-HĐBT ngày 20-11-1991 của Hội đồng Bộ trưởng thì chuyển toàn bộ lao động có nhu cầu sang ký kết hợp đồng lao động.
Đối với các cơ quan hành chính, sự nghiệp trên cơ sở sắp xếp tổ chức biên chế theo Nghị quyết số 109-HĐBT ngày 12-4-1991 của Hội đồng Bộ trưởng thì chuyển từng bộ phận và sau đó là toàn bộ sang ký kết hợp đồng lao động; các cơ quan Đảng, đoàn thể tổ chức xã hội cũng thực hiện như trên trừ các đối tượng quy định tại khoản 2
Điều 1 Nghị định số 165-HĐBT ngày 12-5-1992.
Số lao động có nhu cầu sử dụng được chọn một trong hai loại hợp đồng lao động với thời hạn không xác định hoặc với thời hạn xác định từ 1 năm trở lên, để ký hợp đồng lao động.
Thời gian để hoàn thành việc chuyển lao động trong khu vực Nhà nước sang ký hợp đồng lao động là 12 tháng kể từ ngày Thông tư này ban hành.
Số lao động không có nhu cầu sử dụng được phân loại và giải quyết theo chế độ hiện hành của Nhà nước.
2. Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và xã hội phối hợp với liên đoàn lao động giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố thuộc Trung ương hướng dẫn, đôn đốc kiểm tra việc thực hiện Thông tư này và định kỳ báo cáo kết quả thực hiện về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
3. Thông tư này được phổ biến đến tận người lao động trong các đơn vị có sử dụng người lao động và có hiệu lực kể từ ngày ký. Bãi bỏ các Thông tư số 14-LĐ/TT ngày 21-6-1977 hướng dẫn điều lệ tuyển dụng và cho thôi việc ban hành kèm theo Nghị định số 24-CP; Thông tư số 2-LĐ/TT ngày 30-1-1975 và số 16-LĐ/MN ngày 26-8-1976 hướng dẫn thực hiện Thông tư số 184-TTg về chế độ hợp đồng lao động có thời hạn; Thông tư số 1-LĐTBXH/TT ngày 9-1-1988 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 217-HĐBT; Thông tư số 9-LĐTBXH/TT ngày 18-4-1989 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 27-HĐBT, số 28-HĐBT và các văn bản khác của các Bộ, ngành địa phương trái với Thông tư này./.